Vạn Dặm Vô Thường - Tình Khúc Tế Luân



Vạn Dặm Vô Thường là một khúc ca trữ tình, triết lý, viết lên từ tâm thức của người lữ khách, sau vạn dặm phong sương và những cuộc bể dâu nhân thế. 


Từ bài thơ cùng tên của Tế Luân, ca khúc vang lên như tiếng vọng từ cõi xa xăm,
nơi con người soi lại chính mình giữa vô thường, giữa những mất còn của tình, của đời.
Giai điệu mang âm hưởng ballad lãng đãng và sâu thẳm, đôi lúc pha chút folk cổ điển, như tiếng đàn buồn giữa đêm sương gió.
Trong từng lời ca, là khát vọng tìm tri âm, là nỗi cô đơn của kẻ phiêu du trên đường đời, và cũng là lời chiêm nghiệm nhẹ nhàng
về cõi vô thường, nơi mọi thương đau rồi cũng hóa thành mây khói.
Vạn Dặm Vô Thường không chỉ là một bản nhạc, mà là hành trình nội tâm, nơi người nghe thấy chính mình trong mỗi nốt buồn của kiếp nhân sinh.
Tình Khúc Tế Luân, là ca khúc phổ nhạc từ bài thơ của thi sĩ Tế Luân.
Bài thơ nói lên tâm trang của một lãng tử. 
Video Editor Louis Tuấn Lê.
Với hình ảnh 4K đẹp nhất, âm thanh tuyệt vời, qua hai giọng ca Nam + Nữ hát bè.
Xin mời thưởng thức.
Lê Tuấn




Vạn Dặm Vô Thường.

Vạn dặm phong trần, vạn dặm đau
Tri âm tìm mãi giữa bể dâu.
Người xưa thoáng bóng, trôi nhân thế,
Chỉ bóng ta thôi, gối lệ sầu.

Qua hết đường đời, bước đoạn trường,
Gió cuồng, bụi đỏ, trận sa trường.
Sau lưng bỏ lại ngàn chinh chiến,
Trước mặt vô thường, kiếp tha hương.

Chén rượu cay nồng, say chẳng tỉnh,
Bạn xưa đâu nữa, rượu không cùng.
Câu thơ rớt giữa miền quên lãng,
Chỉ thấy trong tim, mộng bão bùng.

Vạn lý phong sương, tiếng vọng sầu,
Hồn người lãng tử biết đi đâu?
Tình tan theo gió ngoài muôn dặm,
Chỉ thấy trong ta nỗi thẳm sâu.

Năm tháng cuộn về như khúc hát,
Ký ức rưng rưng giữa cõi thiền.
Có ai đợi phía trời xa lắm,
Hay chỉ mình ta đợi hữu duyên?

Chiếc áo phong sương còn bụi bám,
Rũ sạch nhân gian khói mịt mù.
Người xưa nằm dưới hồn sương khói,
Ta chạm thương đau, mộng kiếp tu.

Vạn dặm phong sương, vạn dặm buồn,
Tìm đâu tri kỷ giữa vô thường.
Tìm đâu? chỉ thấy ta già quá,
Chỉ thấy mình ta giữa đoạn trường.

Ơi hỡi! người đi, em ở đâu?
Sao để ta đây giữa vạn sầu.
Trời đất bao la, hồn ly khách,
Lưu lại trong ta, tình ở đâu?

Tế Luân





Xin mời thưởng thức ca khúc Vạn Dặm Vô Thường



Tình Khúc Vạn Dặm Vô Thường qua hai giọng Nam + Nữ hát bè, nghe rất hay, nhưng vẫn chưa thấm sấu vào lòng người. 
Tôi đã thực hiện (Version 2) cho tình khúc này qua phong cách trình bày của Nam ca sĩ.  Nghe rất hay, dường như thấm sấu vào lòng người. Xin mời thưởng thức.




Tưởng Niệm Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ



Tưởng Niệm Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ


Trang sách cũ, hương xưa còn vọng lại,
“Gìn vàng giữ ngọc”, là bậc văn nhân
Cả một đời, thanh sạch giữa phong trần,
Giữ ngọn lửa, sáng đêm dài nhân thế.

Tâm rực sáng, sao trời không che khuất
Tác phẩm để đời, thắp sáng hư vô
Hồn văn nhân, ông gìn giữ cơ đồ
Thành di sản, muôn đời sau còn đó.

“Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp”
Câu nói xưa, ngọc sáng giữa hồn dân
“Doãn Quốc Sỹ”, còn nhắc đến tên ông
Như nhắc đến trăng soi thời tăm tối.

Người ra đi, hương linh còn đọng lại,
Tác phẩm cũ, trang thơ, vào tâm giới.
Một kẻ sĩ, không khuất phục quyền uy,
Một trái tim, chỉ biết yêu chân lý.

Xin cúi mình, trước nến tàn hoa rũ,
Trước tấm gương soi giữa cõi nhân gian.
“Doãn Quốc Sỹ”, ngọn đuốc sáng soi đường
Chân thiện mỹ, ở cùng ông bất diệt.

Tế Luân
Thành Kính Phân Ưu




PHÂN ƯU & TIN BUỒN VĂN HỌC


Văn Thơ Lạc Việt. THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM:



Nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923–2025)
Biểu tượng của Văn Học Miền Nam Việt Nam
Đã thanh thản từ trần lúc 10:05 sáng ngày 14 tháng 10 năm 2025

Tại West Anaheim Medical Center, Quận Cam, California.
Hưởng đại thọ 103 tuổi

Một cây đại thụ của nền Văn Học Miền Nam Tự Do đã ngã xuống.
Tin nhà văn Doãn Quốc Sỹ – thầy giáo, người viết, người kẻ sĩ kiên trung – vĩnh viễn ra đi đã khiến cả giới văn học hải ngoại và trong nước bàng hoàng xúc động.
Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của văn đàn Việt Nam hiện đại, với cuộc đời hiến trọn cho chân – thiện – mỹ, cho tự do tư tưởng và phẩm giá con người.

Câu nói của ông:

“Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp” đã trở thành phương châm sống, biểu trưng cho nhân cách và tấm lòng son sắt của một người trí thức Việt Nam.

Tiểu sử tóm lược
•Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 (mùng 2 Tết Quý Hợi), tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông, Hà Nội.
•Tham gia kháng chiến chống Pháp, rồi rời bỏ Việt Minh khi nhận ra bản chất cộng sản.
•Cùng thế hệ với các văn nhân lớn Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp… sáng lập Tạp chí & Nhà Xuất bản Sáng Tạo (1956) — biểu tượng của phong trào văn học hiện sinh, khai phóng và nhân bản tại miền Nam.
•Là nhà giáo ưu tú, từng giảng dạy tại các trường trung học và đại học danh tiếng: Nguyễn Khuyến, Chu Văn An, Quốc Gia Sư Phạm, Văn Khoa, Vạn Hạnh, và là Hiệu trưởng Trường Trung học Hà Tiên.
•Tác phẩm tiêu biểu: Dòng Sông Định Mệnh, Khu Rừng Lau, Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Đi (bút hiệu Hồ Khanh)…
•Sau năm 1975, ông bị cầm tù hai lần, tổng cộng hơn 13 năm, vì không khuất phục trước cường quyền.
•Năm 1995, định cư tại Hoa Kỳ, vẫn tiếp tục viết và giảng dạy, sống an nhiên, thanh thản giữa cộng đồng người Việt tị nạn.

Một đời khí tiết – Một tấm lòng nhân hậu
Dù trải qua lao tù, thăng trầm, ông vẫn giữ tâm hồn thanh tịnh, sống với tinh thần thiền định và yêu thương.

Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng từng viết:

“Mỗi giờ phút trong đời sống của ông thể hiện một quá trình thiền tập.

Đối cảnh biến đổi cách nào, ông cũng có thể mỉm cười nói: ‘Thế đấy!’”

Ông ra đi, để lại cho hậu thế một gia sản tinh thần đồ sộ, một di sản văn hóa rực sáng, và một tấm gương nhân cách bất hoại.




Văn Thơ Lạc Việt. Thành kính phân ưu cùng tang quyến và nghiêng mình tiễn biệt bậc đại kẻ sĩ Doãn Quốc Sỹ, người đã sống trọn vẹn với chữ Tâm, và ra đi trong ánh sáng của chữ Đạo.

Cầu nguyện hương linh Nhà văn Doãn Quốc Sỹ

Sớm an nghỉ trong cõi Vĩnh Hằng.

Thành Kính Phân Ưu

Những Bài Thơ - Chân Dung Người Nghệ Sĩ Không Bao Giờ Ngừng Sáng Tạo - Tế Luân.



Những Bài Thơ - Chân Dung Người Nghệ Sĩ Không bao Giờ Ngừng Sáng Tạo - Tế Luân.

Tuyển Tập (Viết Trên Quê Người - Chân Dung Văn Thi Sĩ Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại – Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ)
Thi Sĩ
Tế Luân


                               Lê Tuấn Đại Đội Trưởng Dịa Phương Quân (Tỉnh Hậu Nghĩa) 1973


Điểm Trên Da Thịt
Vô Thường Tàn Phai



Đường đời vạn nẻo nhấp nhô
Dặm trường gió bụi biển xô sóng gào
Thôi thì cũng mặc ra sao
Trôi theo thân phận, vận vào nghiệp mang.

Bàn cờ chưa đánh đã tan
Đời trai chinh chiến dọc ngang đất trời
Đạn bom khói lửa tơi bời
Cuồng điên nấc nghẹn, đất trời tang thương.

Đạn thù hằn dấu vết thương
Điểm trên da thịt vô thường tàn phai
Còn nghe như tiếng thở dài
Cơn đau thân phận, hình hài hư hao.

Trôi theo vận nước lao đao
Mai kia dẫu có ra sao kiếp người
Vẫn còn ngạo nghễ tiếng cười
Ưỡn cao bờ ngực nhìn đời hiên ngang.

Tế Luân





Em Cúi Xuống

Em cúi xuống để rơi ngàn giọt lệ
Khóc cho đất, cho mộ đá không tên
Cho đêm về lung linh ngọn nến trắng
Tấm thẻ bài chợt lóe sáng trong đêm.

Em cúi xuống thắp nén nhang tình nghĩa
Ngọn gió chiều làn khói tỏa bay cao
Đời chiến sĩ, linh thiêng còn vọng lại
Giữ Quê hương. Hồn bất khuất tự hào.


Em cúi xuống chắp tay quỳ bái lậy
Lệ tuôn trào vị mặn thấm trên môi
Thời chinh chiến viết đầy trang Quân Sử.
Sao còn nghe lòng trĩu nặng khôn nguôi.


Em cúi xuống lệ tuôn trào thương xót
Khóc cho người vì Tổ Quốc Vong Thân
Việt Nam ơi! Lắng nghe hồn sông núi.
Ngọn lửa thiêng, thắp sáng bóng chinh nhân.

Tế Luân
(bài thơ này đã được hai nhạc sĩ phổ nhạc, phổ biến trê Youtube
Có một ca khúc tôi đã đổi tên là (Giọt nước mắt khóc cho quên hương)




                         Cùng Một bài thơ. Hai Nhạc sĩ phổ nhạc khác nhau







Bóng Người Xưa
Hồn Đá Vẫn Tôn Thờ.



Bước khẽ thôi cho đất nằm yên nghỉ
Để rừng hoang che khuất bóng trong mưa
Hồn phế tích, ngả nghiêng trong thành cổ
Bom đạn thu tàn phá chiến tranh xưa.

Chiều phố núi ta về thăm chốn cũ
Rừng hoang vu thoáng hiện bóng chinh nhân.
Chiến trường đó nơi địa đầu giới tuyến
Nén nhang buồn lan tỏa ngọn phong vân.

Chiều giới tuyến, sau bao năm cách biệt
Ta về thăm, bia mộ đá hoang sơ
Đất im lặng, cỏ buồn phơi sắc úa
Bóng người xưa, hồn đá vẫn tôn thờ.

Người nằm đó, nghe hồn thiêng sông núi
Chợt bồi hồi, ngọn gió núi khóc than.
Người lính chiến, người trai hùng bất diệt
Sáng muôn đời. Hồn Vị Quốc Vong Thân.

Tế Luân




Ta Về Đứng Giữa Dặm Trường


Ta về rừng hỏi han cùng
Núi vang tiếng gọi nghìn trùng xa xăm
Hoang sơ phiến đá nghiêng nằm
Mộ bia nghiêng đổ, vết tăm tích người.

Hồn chinh nhân đứng giữa trời
Bóng ai thoáng hiện dấu đời đi nhanh
Từ trong hốc đá lạnh tanh
Gió như than khóc, cao xanh nghẹn ngào.

Ta về thăm những chiến hào
Hồn thiêng sông núi còn cao trí hùng
Rừng xưa che bóng chân dung
Khói hương lan tỏa một vùng đau thương.

Mầu hoa sim tím lạ thường
Kiếp nhân sinh loạn, vô thường mộ xưa
Dòng tâm thức chảy như mưa
Khóc cho thân phận dư thừa lãng quên.

Ta về theo dấu chân quen
Tiếng đêm động vỡ, ngọn đèn soi thân
Thiên thu mờ mịt xa gần
Đất xa xuống vực, tần ngần khóc thương.

Ta về đứng giữa dặm trường
Hai vai gánh cõi vô thường mà đi.

Tế Luân




Trại tù khổ sai. Tập Trung Cải Tạo của Cộng Sản Bắc Việt sau năm 1975


Mùa Xuân Trong Tù


Một dải đường xa, xa rất xa
Sâu thẳm rừng hoang sương khói mù
Xuân chợt đến, quặn đau nỗi nhớ
Kiếp thân tù, tàn giấc thiên thu.

Ta tưởng thời gian bị lãng quên
Nào ngờ hoa nở nhắc ngày xuân
Tám năm cạn lòng thương sông núi
Một nhánh hoa xuân, tình đến gần.

Tết đến còn mang nặng kiếp tù
Ngắm hoa buồn tựa lá mùa thu
Hạt bụi mưa xuân, đọng mí mắt
Nghe tiếng lòng đau, gió bụi mù.

Mẹ vẫn chờ mong Tết sẽ về
Nào ngờ, vạn dặm bóng sơn khê
Thân phận tù nhân lòng trắc ẩn
Mắt mẹ buồn đau giọt lệ mờ.

Anh chưa về được Tết năm nay
Em buồn hiu hắt lá vàng bay
Ngọn gió xuân tình như nhắn hỏi
Cánh nhạn trời xuân, tung cánh bay.

Lặng lẽ thời gian nơi trống vắng
Nhan sắc xuân sang đã úa tàn
Thương nhớ tìm về theo giấc mộng
Buồn sơn khê gió núi mưa ngàn.

Tế Luân





Xót Xa Phận Tù



Ta gom nước mắt, chảy thành dòng
Cho mặt đất hoá thành nhánh sông
Cuộc vay trả, tháng năm tù tội
Như đoá hồng, nở giữa chốn không.

Đời mất đi từng mảng xót xa
Chắp vá nốt, nỗi đau thịt da
Vạn ngày dài, nối thêm niềm nhớ
Kiếp trầm luân, gió bụi đời ta.

Tám năm, giấu mình trong vùng tối
Đợi lửa mặt trời, đốt cháy ngày
Tung kiếm giang hồ, như gió lốc
Nơ tang bồng, vay trả ai hay.

Một sớm ngày mai sẽ đổi thay
Ngọn gió xoay chiều, thổi hướng tây
Ngàm dặm lìa xa, thương cố quốc
Ngày đó ta về, sẽ dựng xây.

Tế Luân




Lục Bát Và Thiền Đạo



Ngồi trong tư thế kiết già
Tĩnh tâm nhập định, mở ra cõi lòng
Để hồn vào chốn hư không
Tâm không giao động, hoài mong lòng trần.

Lặng im quán chiếu tinh thần
Nhìn xem vọng tưởng xoay vần đến đâu
Hít vào cho thật thâm sâu
Thở ra nhè nhẹ, khởi đầu thiền môn.

Từ từ cảm nhận lối mòn
Đường đi vào tận, cõi hồn hư vô
Một thoáng ẩn hiện mơ hồ
Lòng trần giao động, đẩy xô bước vào.

Bao tạp niệm, bao khát khao
Sân si ham muốn, kêu gào oan khiên
Giữ tâm bình lặng cõi thiền
Xoá tan tạp niệm, giữ nghiêm tâm hồn

Tâm là khoảng trống vô ngôn
Thiền là cảnh giới, cõi hồn thênh thang
Tấm lòng bình thản riêng mang
Hồn không chao đảo, mơ màng lãng du.

Đời người như lá mùa thu
Trăm năm một giấc, mộng du ta bà
Bàng hoàng nhìn lại mình ta
Bên trong cõi tạm, xót xa phận người.


Tế Luân



Chiều Không Gian



Có một không gian thật dài
Chạy theo nỗi nhớ thường hoài trăm năm
Lá dâu phủ lớp tơ tằm
Ngày ăn nhả kén, đêm nằm nhả tơ.

Có một không gian tuổi thơ
Mà bao nỗi nhớ mộng mơ dạt dào
Tiếc chi một giấc chiêm bao
Để cho cát bụi quyện vào bên nhau.

Nghĩ đời lắm cuộc bể dâu
Hồn ai! hoa nở đóa sầu vấn vương
Cho giòng lệ ngấn hạt sương
Thương đời trăm mối đoạn trường phù vân.

Em về giữ lấy tuổi xuân
Đêm trăng thức giấc, sáng ngần dáng sương
Ngày mai phố bụi xe đường
Ngày mai còn lắm đoạn trường dấn thân.

Tiếng đời xa lạ tần ngần
Thăng trầm in dấu bước chân một mình
Con cò lặn lội bờ kinh
Vì đâu lận đận, bóng hình ưu tư.

Nhớ ai lòng vẫn chần chừ
Nghiêng soi bóng nước, thật hư hiện về
Hoa buồn, cỏ cũng não nề
Sông ngân đẫm lệ, cơn mê chạnh lòng.

Thu qua, trời đã chớm đông
Thấy hoa lạnh buốt ngoài đồng xót xa
Đường về sương khói mù sa
Lòng buồn đứng giữa giang hà vấn vương.

Sương giăng mờ cuối cung đường
Một làn tuyết trắng phố phường mây bay
Em về, người lại nắm tay
Nói lời thăm hỏi, thêm dài nhớ thương.

Âm từ lắm mối tơ vương
Lời nghe xao xuyến, đoạn trường tàn phai
Chiều không gian nối thêm dài
Đường xa ngần ngại nhớ hoài gót mơ.

Mượn trang giấy trắng đề thơ
Tiếng em nức nở trong tờ thơ tôi
Con chim đã vụt bay rồi
Tiếng kêu tha thiết bên trời tuyết bay.

Tế Luân



Hình ảnh khi chúng tôi travel Phần Lan (Finland) 
thăm viếng ngôi làng Rovanieme "Quê Hương Ông Già Noel"
Nằm bên vòng đai vùng Bắc Cực



Cơn Mưa Tuyết



Mưa tuyết ngoài trời ngọn gió đông
Môi em, đốm lửa dấu tình nồng
Tìm hơi sưởi ấm nhờ em nhé
Ta dựa vào nhau, đốt lửa hồng.

Mặc kệ thời gian những đoạn trường
Ta bên nhau, đời mãi yêu thương
Tuyết rơi thả xuống loài hoa trắng
Phủ trắng hồn ta, những đoạn trường.

Sao vẫn còn riêng chiếc lá bay
Úa vàng trên tuyết nhớ thương đầy
Chim trời vỗ cánh bay quanh núi
Thung lũng chiều nay mây trắng bay.

Đời nổi trôi, ngày tháng vẫn trôi
Ta bên em sao vẫn bồi hồi
Con đò xưa, có thay dòng chảy
Một cõi đi về dẫu ngược xuôi.

Ta nhớ em từng vùng thịt da
Ngoài trời mưa tuyết vụt bay qua
Ngàn năm ngọn nến đêm chờ đợi
Ta hẹn cùng em tình thật thà.

Ta muốn đem vào những thói quen
Giữ nguyên nét đẹp mối tình đầy
Sợ màu hoa tuyết tan đi mất
Trắng cả hồn ta hoa tuyết bay.

Ngoảnh mặt nhìn lại dấu bước chân
In trên tuyết trắng, bóng phù vân
Thời gian đã chết mê từ đó
Ta mãi bên em không ngại ngần.


Tế Luân



Tôi Yêu Thơ


Tôi viết đôi dòng ký sự
Gửi người thích những vần chữ thơ tôi
Thơ tôi mộng tưởng xa xôi
Yêu mây, yêu gió, yêu hồi thanh xuân.

Yêu hoa rơi rụng dưới chân
Yêu em mắt lệ còn ngần dáng sương
Tôi yêu thêm những con đường
Yêu cả trăm mối đoạn trường xa bay.

Tôi yêu đôi má đỏ hây
Yêu tình nhân thế xum vầy bên nhau
Yêu dòng sông, với nhịp cầu
Yêu đêm sáng tỏa trăng thâu quê minh.

Tôi yêu bóng hạc bờ kinh
Dòng xuôi bến vắng thuyền tình đón ai
Em về xương đẫm ướt vai
Dấu chân lạc bước đường dài thâu đêm.

Cầu hò tiếng hát ru êm
Tôi yêu tiếng nhạc êm đềm như mơ
Yêu em cả một trời thơ
Ngôn từ hoa nở trong tờ thơ tôi.

Tình tôi chỉ một dòng thôi
Nương theo dòng chảy nước xuôi qua cầu
Sang xuân ta lại bắt đầu
Tôi yêu giây phút nhiệm mầu tình thơ.

Tế Luân




Dòng Sông Đời



Trên dòng sông trần thế
Đời nổi trôi theo nguồn
Thân ta như chiếc lá
Bồng bềnh theo cõi hồn

Ta một đời bận rộn
Chuyện cơm áo gạo tiền
Sống một thời buông thả
Biết gì đâu đạo thiền.

Bây giờ tuổi đã già
Chiều rơi bóng sương mù
Đời vui, buồn, thắng, bại
Đã hiểu lẽ duyên tu.

Thơ thiền như thoát tục
Thơ tình vẫn đa mang
Theo nàng thơ lãng mạn
Tình và Thiền chung trang.

Bây giờ ta mới hiểu
Biển hư vô mênh mông
Đời sống là cõi tạm
Trăm năm là hư không.

Bây giờ ta mới thấm
Ngọn lửa đỏ chiến tranh
Nấu xôi lòng thù hận
Bốc hơi mù tan nhanh.

Pha loãng những phiền muộn
Thanh lọc cả lỗi lầm
Mở lòng vui thiền đạo
Thiền mênh mông trong tâm.

Suy tư vào thiền đạo
Buông bỏ hết muộn phiền
Hồn nghỉ yên tĩnh lặng
Trôi dần vào cõi tiên.

Tế Luân
(Suy tư trong một thoáng thiền)




Gương Mặt Thi Nhân


Tôi thấy vết nhăn hằn trên gương mặt
Từ vết nứt mọc ra một câu thơ
Ý thơ sâu thẳm từ trong ký ức
Hiện hóa thân tôi như một giấc mơ.

Lần theo đường chỉ hằn sâu vết nứt
Tôi nhặt ra hạt bụi nảy mầm thơ
Từ đó thơ tôi mang theo hoài niệm
Thân phận con người trần tục bơ phờ.

Tôi lại thấy vết nám trên da thịt
Vết nám lan nhanh màu sắc tím bầm
Nhưng nơi ấy có vần thơ trải rộng
Trên mình thi nhân tư tưởng nảy mầm.

Tôi mặc kệ những vết nhăn bầm tím
Dấu vết thời gian nhân cách thi nhân
Mỗi ngày câu thơ từ trong trí tuệ
Trên mình thi sĩ nở đóa phù vân.

Tế Luân





Ngụ Ngôn Của Thi Nhân


Còn nghe nức nở từ bông hoa
Gõ nhịp thời gian bóng xế tà
Trên nấm mồ hoang loài cỏ úa
Hồn soi hạt bụi cõi ta bà.

Bầy hoang giã thú đêm huyền mặc
Khao khát nhìn em dáng ngọc ngà
Vết nứt hồi sinh nguồn thực thể
Đêm soan rót mật bóng trăng tà.

Gió bay chợt thấy hồn trinh nữ
Bám bụi thời gian phủ lớp dày
Em tắm nước sông trôi tận biển
Bụi hư vô chối bỏ thân này.

Xỏ dây chuỗi hạt thiền tâm định
Hơi thở đêm qua mới tái sinh
Nhìn thấy thân ta từ kiếp trước
Nhấp nhô nhịp điệu hóa vô hình.

Tế Luân
Tự soi bóng mình




Tôi Muốn Thơ Tôi


Tôi muốn thơ tôi là nhánh sông
Chở đầy nỗi nhớ vào mênh mông
Thêm nhiều triệu đóa hoa hồng thắ
Tặng những đau thương một đóa hồng.

Tôi muốn thơ tôi lá mạ non
Cánh đồng lúa chín hạt ươm vàng
Ngôn tình rực rỡ thêm nguồn sống
Thổn thức trong thơ nét dịu dàng.

Tôi muốn thơ tôi những nốt nhạc
Du dương âm điệu vọng thiên thai
Tình yêu thổn thức lời âu yếm
Như lá thu rơi trải gót hài.

Tôi muốn tình yêu đầy ý thơ
Cả trong giấc ngủ vào đêm mơ
Nồng nàn quyến rũ nguồn ân ái
Buông thả hồn mơ đến bến bờ.

Tôi muốn thơ tôi chảy ngược dòng
Trở về tuổi trẻ lòng hoài mong
Thăm từng nỗi nhớ đời son trẻ
Những tiếng âm vang từ tấm lòng.

Tôi muốn thơ tôi vào cuộc sống
Chuyện vui buồn viết hết trong thơ

Để khi nhớ vẫn còn rung động
Giấc mộng vàng say đắm tuyệt vời.

Tôi muốn thả rơi lòng hận thù
Cuộc đời phiêu bạt lắm gian truân
Tám năm biệt xứ là vô tận
Trời đất xoay vòng chuyện thế nhân.

Tôi muốn thơ tôi những đóa hoa
Xuân về rực rỡ niềm đam mê
Lòng vui chất chứa đầy nỗi nhớ
Trong mối tình quê bước trở về.

Tế Luân








Trắc Ẩn Tuổi Già



Lòng trắc ẩn tuổi già ập đến
Niềm đam mê sức khỏe không còn
Tiếng đêm thổn thức như chờ đợi
Tung cánh chim bay bỏ núi non.

Vết chém đời ta những nỗi đau
Đường tình tiếc nuối sống bên nhau
Tuổi già rung động bằng nhân nghĩa
Ân ái ngày xưa đã vướng sầu.

Để lại trong ta đầy nỗi nhớ
Trăm năm nợ ấy nhớ đừng phai
Một đời ân nghĩa duyên chồng vợ
Dan díu bên nhau trọn kiếp này.

Hãy thức dậy cùng nhau vọng nguyệt
Nghe âm vang thổn thức tim yêu
Khối tình nhớ mãi thời son trẻ
Tìm cõi đi về bóng đổ xiêu.


Tế Luân





Hoa Đèn

Nửa đêm môi ướt thì thầm
Lụa mềm nhung gấm tơ tằm gối chăn
Cho nhau một chỗ em nằm
Tìm trong bóng tối vết tăm tích người.

Sương đêm gió lạnh tơ trời
Tiếng đêm thổn thức nói lời du dương
Ngoài sân hoa rụng bên đường
Cánh hoa trắng điểm vô thường tuyết bay.

Đèn đêm dầu cạn mới hay
Hoa đèn vụt sáng bàn tay ngại ngần
Trầm hương lan tỏa dưới chân
Dòng mê bịn rịn tình xuân một thời.

Trời thu xanh biếc da trời
Môi thơm mật ngọt đôi lời thiết tha
Trăng khuya sương phủ mù sa
Đêm dài nhạc khúc tình ca nhẹ nhàng.

Tóc em cuốn giải tơ vàng
Ngực đeo chuỗi ngọc điệu đàng du dương
Hoa ghen sắc đẹp nhún nhường
Em là tiên nữ nghê thường hóa thân.

Tế Luân




Khoảng Trống



Em để lại mênh mông khoảng trống vắng
Không thể lấp đầy, lặng chết trong lòng
Hồ cạn, suối cạn, sông dù có cạn
Mưa vẫn lấp đầy, nhưng em thi không.

Hình bóng em vẫn dạt dào bất tận
Bất tận thời gian lận đận vô chừng
Cuộc tình ấy vỡ từng mảnh ký ức
Máu chảy trong anh, ngập lụt vô thường.

Gió bão thổi, mưa ướt đêm cuồng mộng
Chiều sau lưng giao động nỗi hân hoan
Tóc em xõa bờ vai trần ấm áp
Dòng sông em, êm ả nét hiền ngoan.

Giấc mơ trong anh, em là hoàng hậu
Trên ngai vàng ẩn dấu nét kiêu sa
Trong cung cấm em là vai vương hậu
Trên ngôi nữ hoàng, dấu ấn ngọc ngà.

Có phải em làm tim anh thổn thức
Cuộc tình đêm, tình sáng sớm mượt mà
Áo hoàng hậu lụa là vàng óng ả
Đầy ngập hồn anh, em đã chan hòa.

Tế Luân




Ngôn Từ Trong Thơ

Chữ trong thơ chợt ngoi lên
Bồng bềnh ngôn ngữ nằm bên cuộc tình
Thả trôi theo khóm lục bình
Hỏi em che dấu bóng hình nơi đâu.

Gió đưa dải yếm qua cầu
Hương thơm tơ lụa tằm dâu ngỡ ngàng
Soi nghiêng vạt áo lụa vàng
Dáng em quyến rũ dịu dàng bước đi.

Dấu chân hoa nở xuân thì
Môi xinh cười nụ tình si lạ thường
Đồng xanh bát ngát quê hương
Cỏ mềm ướt đọng giọt sương bàng hoàng.

Nhớ em thung lũng hoa vàng
Thương nhau ôm cả hành trang vào đời
Dù mai góc bể chân trời
Theo em phố núi rong chơi tháng ngày.

Tóc em thơm ngát hương say
Môi em mềm mại ngất ngây đậm đà
Khói trầm hương phủ bóng tà
Mắt xanh liếc nhẹ mặn mà trao duyên.

Vai nghiêng suối tóc tơ huyền
Đôi gò bồng đảo, hai miền tuyết băng
Đêm huyền ảo dưới bóng trăng
Tay em dài nụ búp măng gợi tình.

Tình yêu không phải vô hình
Chạm môi mới biết chân tình thật hư
Yêu là hiện hữu thiên thu
Quanh co dấu hỏi trầm tư mập mờ.

Tế Luân




Sợi Tóc Thi Nhân


Sợi tóc thi nhân vừa rơi xuống đất
Cơn gió thổi qua biến mất trong ngày
Tôi im lặng gửi hồn vào sâu thẩm
Trí tuệ trong tôi cạn bớt hay đầy.

Tôi sợ nhất dòng suy tư dẫy chết
Nụ hoa nâng niu sương đọng từ trời
Ngôn từ minh triết mọc lên từ đất
Viết nốt trang thơ ngôn ngữ gọi mời.

Sợ mất nụ hôn của ngày thơ dại
Mà đôi ta cộng lại tháng năm qua
Cất dầu trong tim bỏ vào ký ức
Mai sau cần tình nồng ấm thiết tha.

Sợi tóc bạc rụng rơi xuân tươi thắm
Tôi đưa tay níu kéo những ân tình
Nồng ấm hơi thở một thời ân ái
Hạnh phúc bên nhau vun xới đời mình.

Tế Luân



Hạt Muối Môi Em



Trên môi em tôi nếm thử hạt muối
Xem nồng độ của biển mặn bao nhiêu?
Bút mực thi nhân nào khóc trên giấy
Biển nào xanh thấu hiểu cả tình yêu.

Tôi muốn nghe tiếng rì rào sóng biển
Biển xô sóng về bến bãi nơi nào
Con dã tràng xe cát trên biển rộng
Cả một đời vật lộn với hư hao.

Hải âu bay hoài mà không tới đích
Em ngồi buồn trên ghềnh đá ngóng trông
Trở về chốn xưa lục tìm trong ký ức
Tình yêu nào tô điểm giấu môi hồng.

Ân sủng từ trời đôi khi có giới hạn
Chắt chiu hai tay hứng lấy giọt mưa
Cháy bỏng mùa hạ ân cần bù đắp
Đời sống cần nhau thân phận dư thừa.

Lời thi nhân hoài niệm trong im lặng
Để tâm hồn lẩn khuất trong đám mây
Nhờ cơn gió thổi qua lời nhắn gửi
Những ân tình nồng ấm của hôm nay.

Tế Luân




Cơn Mưa Hồng

Cơn mưa hồng lất phất
Đỏ thêm viền nét môi
Hôm nay em xinh quá
Nắng hạ bừng trong tôi.

Có muộn màng không em?
Mùa hạ về rất vội
Hoa rơi đầy khắp lối
Nỗi nhớ mong bồi hồi.

Chuyện tình nào bâng khuâng
Bước về theo dấu chân
Cơn mưa hồng nắng hạ
Bến mơ nào phù vân.

Có mối tình khó tả
Theo tiếng ve ngân nga
Gió bay đầy bụi phấn
Tôi yêu em thật thà.

Tháng sáu đầu mùa hạ
Hồn nhiên tuổi học trò
Lòng xôn xao rất lạ
Đến bên nhau hẹn hò.

Yêu một thời đã mất
Bây giờ đã phôi pha
Cuộc tình như sống lại
Ngày tháng cũ bay xa.

Tế Luân




Mùa Thu Lặng Lẽ

Thu lặng lẽ như thì thầm trước cửa
Em lại buồn như thuở mới biết yêu
Trời gió lạnh cơi thêm cao ngọn lửa
Rượu uống say cho quên cả bóng chiều.

Em lại buồn sợ mất mối tình say
Muốn chạm cốc cùng ai trong hoài niệm
Mắt u buồn tìm bóng người tri kỷ
Mối tình xưa còn vương vấn nỗi niềm.

Nếu tình yêu nhiều như những ga tàu
Đến từng chạm lại dừng cho khách xuống
Để tình buồn chia tay vài trăm chuyến
Thì cô đơn sẽ cào xé tâm hồn.

Đếm nỗi buồn nhiều như lá thu rơi
Mỗi cành lá bay theo chiều cung mệnh
Em bước đi xào xạc, nghe lá rụng
Tiếng mùa thu, lời tình cõi mông mênh.

Em có muốn gom hết mùa thu lại
Vì tình đau vẫn ẩn chìm trong lá
Cho đến khi gió thu vừa thấm mệt
Lá ngừng bay, sương phủ bóng chiều tà

Lê Tuấn
Người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng
Còn viết mãi những bài tình thu.



Vầng Trăng Thu Chia Nửa

Tôi có một mùa thu
Mùa êm đềm nỗi nhớ
Đèn trung thu rực rỡ
Sáng khung trời ước mơ.

Tôi chia nửa vầng trăng
Một bên là chốn cũ
Bên kia vào giấc ngủ
Tìm lại chốn xa xưa.

Tôi cắt nửa cái bánh
Nửa giấu trong nỗi nhớ
Nửa cất vào tuổi thơ
Đã mất tự bao giờ.

Tôi chia ánh trăng rằm
Hai khung trời vời vợi
Em và tôi vẫn đợi
Ánh trăng đêm gọi mời.

Cắt xén cả áng mây
Làm thuyền đưa em đến
Bến sông buồn xa vắng
Dòng sông trôi êm đềm.

Tôi chia hai vần thơ
Vần đầu theo nỗi nhớ
Vần sau cho tình cũ
Hoài niệm đêm trung thu.


Tế Luân
Hoài niệm Trung Thu
Thung Lũng Hoa Vàng San Jose




Buổi Sáng Sương Thu

Sáng nay lá thu bay
Gió lùa vào chân mây
Hạt sương thu lạnh lẽo
Đọng trên ngọn tình đầy.

Thoáng hiện bóng dáng em
Trong giọt đọng sương đêm
Tôi chạm tay vào đó
Hạt vỡ tan ướt mềm.

Trên cánh hoa dại vàng.
Giọt buồn rơi muộn màng
Ánh mắt em say đắm
Tôi mơ thấy thiên đàng.

Theo cánh chim cuối trời
Chiếc lá vàng chơi vơi
Làm hồn tôi chao đảo
Nép bên trong một đời.

Trong ngôi đền linh thiêng
Thôi miên trong giấc thiền
Nét mặt em thánh thiện
Tôi nhìn em hoá điên.

Ngọn gió thu xoay vần
Tình sao vẫn ngại ngần
Trời thu nhiều gió lạnh
Lá vẫn rơi đầy sân.

Tế Luân
Bài thơ tình mùa thu




Mơ Ước Ngày Xuân

Đóa hoa chớm nở lá xanh
Giọt sương còn đọng long lanh sắc màu
Đêm qua sương lạnh trăng thâu
Em vào múc cạn mạch sầu đổ đi.

Ngoài sân bãi cỏ xanh rì
Có loài cỏ lạ xuân thì nở hoa
Tóc dài hương gió bay xa
Em thay áo mới bóng tà huy bay.

Đóa hồng hoa nở trên tay
Ngây thơ chờ đợi đến ngày xuân sang
Trước sân cúc nở hoa vàng
Đào, mai, rực rỡ huy hoàng đón xuân.

Sao em ngơ ngẩn bâng khuâng
Như chờ như đợi đường trần nối duyên
Trong mơ em thấy bà tiên
Mong sao gặp được người hiền thi nhân.

Bao giờ em gặp người thân
Tình chàng ý thiếp đường trần thênh thang
Bài thơ ngôn ngữ nhẹ nhàng
Tình thơ ý đẹp ngập tràn yêu thương.

Xôn xao tiếng gọi bên đường
Mơ xuân hiện hóa thiên đường rong chơi
Tơ hồng giăng mắc ý trời
Em mong xuân đến một đời bình an.


Tế Luân
Mùa xuân miến bắc California.



Sám Hối Mùa Chay

Nhìn vào trong tâm mình
Thần khí ta lặng im
Tĩnh lặng nghe nhịp thở
Tội lỗi đang nhận chìm.

Đời hoang tưởng lang thang
Đôi chân bước vô hồn
Trần gian là hoang địa
Đi vào ngôi mộ chôn.

Danh vọng là hư ảo
Tiền bạc là hư không
Mọi thứ đều biến mất
Tan theo khói bụi hồng.

Mùa chay tịnh thánh linh
Mảnh vải tím chân tình
Vắt ngang trên thập giá
Thiến Chúa gánh nhục hình.

Mùa chay cho lòng mình
Thức tỉnh trước bình minh
Yếu đuối trong bóng tối
Đợi hồn ta tái sinh.

Thiên Chúa là vô biên
Cửa ngõ vào cõi tiên
Nước trời đang rộng mở
Tình yêu là bình yên.

Tế Luân
Cảm nhận về mùa chay




Mênh Mông Sương Khói


Mênh mông sương khói nhẹ bay
Em xòe tay bắt chùm mây sương mù
Tưởng rằng nắm cả thiên thu
Nào ngờ một nhúm phù du hão huyền.

Một làn khói chợt thôi miên
Vào thăm ký ức lụy phiền trăm năm
Lụa vàng óng ánh tơ tằm
Khoác lên tấm áo hương trầm vấn vương.

Đêm trăng huyền ảo mù sương
Ngày mai tiếp bước bụi đường phong vân
Buồn thương nỗi nhớ xa gần
Để cho lệ ấy tần ngần vết đau.

Người đi tình vội theo sau
Phố xưa trời rộng đổi màu hoàng hôn
Hoa sen chớm nở bên cồn
Sương khuya thấm ướt cõi hồn thi nhân.

Hoa vàng sương khói phù vân
Mây bay phủ bóng đường trần tha phương
Lang thang khắp nẻo đoạn trường
Đời trôi ngày tháng vô thường mai sau

Tế Luân
Bài thơ này đã được phổ nhạc,
phổ biến trên youtube


Xin mời nghe nhạc





Tiếp theo những vần thơ



Mừng Noel


Mẹ ơi! Noel là gì?
Lửa bập bùng sưởi ấm
Bão tuyết rơi ngoài sân
Ánh đèn màu lấp lánh.

Mẹ ơi! Noel đẹp quá!
Ông già râu bạc phơ
Mặt hiền hòa phúc hậu
Mang quà cho tuổi thơ.

Mẹ ơi! Noel thánh thiện
Nhạc thánh ca vang lừng
Lòng rộn ràng háo hức
Tiếng chuông ngân không ngừng.

Mẹ ơi! Chúa chào đời
Trong máng cỏ đơn sơ
Ánh hào quang rực rỡ
Soi sáng cả bài thơ.

Mẹ ơi! Trời đầy sao
Một ngôi sao Mẹ cài
Trên cây thông xanh biếc
Noel xưa! Nhớ hoài.

Tế Luân



Em Đi Lễ Nửa Đêm



Tháng mười hai giáng sinh
Lòng vương vấn chân tình
Ngoài kia trời gió lạnh
Ánh đèn màu lung linh.

Em mặc áo len hồng
Khăn quàng cổ quấn vòng
Giày cổ cao nhung ấm
Em đi vào mùa đông.

Mọi người vẫn nhìn trông
Em thấy thẹn trong lòng
Tiếng người khen xinh quá
Gió lay nhẹ lá thông.

Mẹ cười nghe lời khen
Em nhìn theo ánh đèn
Những sắc màu lóng lánh
Giáo dân mừng Noel.

Thánh đường tiếng chuông ngân
Vinh danh Chúa giáng trần
Bình an nơi trần thế
Xóa tan lòng phân vân.

Hôm nay đến nhà thờ
Màn sương trắng che mờ
Chúa đóng đinh! Thập giá
Giang tay như đón chờ.

Dải sương trắng lững lờ
Đẹp như là trong mơ
Em làm dấu thánh giá
Lòng hân hoan đợi chờ.

Giáo đường lễ nửa đêm
Mỗi lúc một đông thêm
Trang nghiêm vào thánh lễ
Hoa tuyết rơi bên thềm.

Đêm hiển thánh vô cùng
Lòng người hòa nhịp chung
Ca đoàn vang tiếng hát
Rực sáng cả vương cung.

Cây thông mừng giáng sinh
Ánh đèn sáng lung linh
Quả châu treo rực rỡ
Em chụp vài tấm hình.


Em chắp tay nguyện cầu
Chúa giáng sinh nhiệm màu
Xuống trần gian cứu chuộc
Loài người mối tội đầu.

Xin Chúa ban bình an
Những ân tình chứa chan
Thoát bao cơn dịch bệnh
Loài người hết gian nan.

Em đi lễ nửa đêm
Tâm hồn em yếu mềm
Xin Chúa ban sức mạnh
Vượt qua những nỗi niềm.

Tế Luân
Noel trên Thung Lũng Hoa Vàng San Jose



Nhớ Xuân Quê Cũ


Xuân về nhớ cánh đồng xanh
Mênh mông lúa trổ nghiêng cành đón xuân
Đàn trâu thong thả ngoài sân
Bình yên theo bước đường trần phương xa.

Khói lam vờn mái tranh già
Bếp hồng mẹ nhóm đậm đà tình thân
Nồi bánh chưng chín bao lần
Vẫn nghe thơm ngát ân cần tuổi thơ.

Tiếng chim đua hót trên bờ
Cây mai trước ngõ đợi chờ nở hoa
Mẹ ngồi vá áo cho cha
Bàn tay tháo vát, hiền hòa tháng năm.

Xuân này con định về thăm
Trời xa vạn dặm biệt tăm xứ người
Đại dương xanh thẳm xa vời
Nhớ mùi khói bếp bồi hồi vấn vương.

Gió đùa ngọn cỏ bên đường
Nén nhang mộ chí khói hương mở lòng
Mong xuân nối lại tình hồng
Hồn quê vẫn mãi đợi mong người về.

Cánh chim én lượn vòng mê
Mẹ chờ ở dưới chân đê đầu làng
Ngày xuân lòng thấy bàng hoàng
Xa xăm nỗi nhớ úa vàng hương xuân.

Tế Luân




Những vần thơ tượng trưng, chỉ là những trích đoạn trong hàng ngàn bài thơ mà tôi đã viết.
Người Nghệ Sĩ Không Bao Giờ Ngừng Sáng Tạo 
Tế Luân
























Tế Luân - Người Nghệ Sĩ Không Bao Giờ Tắt Ngọn Lửa Sáng Tạo



TẾ LUÂN
(LÊ TUẤN - LOUIS TUAN LE)
Người Nghệ Sĩ Không Bao Giờ 
Tắt Ngọn Lửa Sáng Tạo



        Tế Luân là bút hiệu của Lê Tuấn, sinh năm 1948 tại Hà Nội. Sau khi định cư tại Hoa Kỳ và nhập quốc tịch, ông lấy tên là Louis Tuan Le. Tế Luân là một trong những tiếng nói tiêu biểu của thế hệ nhà văn, nhà thơ hải ngoại hậu chiến, ông mang trong mình không chỉ ký ức chiến tranh, nỗi đau tù đày, mà còn một tình yêu sâu sắc với nghệ thuật và quê hương.

        Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào miền Nam, lớn lên và trưởng thành tại Sài Gòn. Đến năm 1961, ông gia nhập Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, tốt nghiệp năm 1967 và chính thức bước vào cuộc đời binh nghiệp. Trong suốt những năm phục vụ trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, ông trực tiếp tham gia nhiều chiến trường khốc liệt, với chức vụ cuối cùng là Đại đội trưởng Địa Phương Quân, Tiểu khu Hậu Nghĩa.

        Tế Luân từng ba lần bị thương nơi chiến tuyến, trong đó có một lần suýt mất mạng trong “Mùa hè đỏ lửa” năm 1972 khi bị trúng B40, thân thể văng khỏi căn nhà lá, để lại một mảnh bom trong cánh tay đến tận bây giờ. Nhưng ông vẫn vượt qua cả về thể chất lẫn tinh thần.

        Sau biến cố tháng Tư năm 1975, ông bị bắt và giam giữ suốt 8 năm tại các trại cải tạo từ Nam ra Bắc: Katum (Tây Ninh), An Dưỡng (Biên Hòa), Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Nghĩa Lộ, Trại 6 Thanh Chương và Trại 3 Tân Kỳ (Nghệ Tĩnh). Những tháng ngày tù đày khắc nghiệt ấy đã để lại dấu ấn không thể xóa mờ trong tâm hồn. Và cũng chính từ đó, chất liệu của văn chương và âm nhạc trong ông được kết tinh mạnh mẽ.

        Ông từng đối diện với "hội chứng chiến tranh" (shellshock), một dạng sang chấn tâm lý do chịu đựng quá nhiều tiếng bom đạn, cùng với những tổn thương tinh thần trong thời gian bị giam giữ như một tù binh chiến tranh. Nhưng điều đáng quý nơi ông, là tâm hồn nghệ sĩ không ngã quỵ. Trái lại, ông đã hóa nỗi đau thành lời thơ, thành nhạc, thành những tác phẩm thấm đẫm chiều sâu lịch sử, nhân sinh và lòng yêu nước.

        Năm 1993, ông cùng gia đình định cư tại San Jose, Bắc California theo diện HO 20. Từ đây, hành trình sáng tạo văn học, nghệ thuật của ông tiếp tục “tỏa sáng” và được ghi nhận trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ.

        Là một người đa tài, Tế Luân không chỉ là thi sĩ, nhà văn, họa sĩ, mà còn là một nhạc sĩ nghiệp dư và video editor.. Ông không ngừng sáng tạo, tự "học hỏi" và "làm mới" mình qua nhiều hình thức nghệ thuật khác nhau. Đặc biệt, ông đã thực hiện hàng loạt talk show và video mạn đàm về các tác phẩm văn học kinh điển Việt Nam như Truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, Lục Vân Tiên, Tỳ Bà Hành… Những chương trình này được phát sóng trên các đài truyền hình như VNA-TV, Dân Sinh, Viet Today, cũng như phổ biến rộng rãi trên YouTube và Facebook.

        Bên cạnh đó, ông còn thực hiện nhiều video phóng sự, du lịch Âu, Đông Âu, audiobook văn học, và những ca khúc sáng tác trong tù cải tạo như: Vết Loang Đọa Đầy (1978), Như Cơn Gió Lốc (1979), Xuân Vẫn Mang U Hoài (1979)...

        Các nhạc phẩm này cùng hơn 14 ca khúc phổ thơ của ông đã được trình bày thành album “Những Ca Khúc Phổ Thơ Tế Luân. Chiều Sông Hương”. Đặc biệt, những bản tình ca sâu lắng như Trên Đỉnh Mưa Bay, Tạ Ơn Em, Mùa Thu Vẫn Hát Cho Người… đã thu hút hàng ngàn lượt xem trên YouTube.

        Tế Luân là một thành viên tích cực của Văn Thơ Lạc Việt Bắc California và Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại – Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ. Bên cạnh vai trò sáng tác, ông còn từng đảm nhiệm vị trí phụ trách Ban Truyền Thông, với những đóng góp không ngừng nghỉ trong việc quảng bá văn hóa và văn học Việt Nam tại cộng đồng người Việt hải ngoại.

        Từ năm 2019 đến nay, Tế Luân đã cho ra mắt nhiều tác phẩm văn học phong phú, trải dài từ thơ, tùy bút, truyện ngắn đến triết luận. Tình Yêu Của Tôi (2019 – Thơ), Sen Già Nở Muộn (2020 – Tùy bút & Thơ), Đội Đập Đá (2020 – Hồi ký tù cải tạo), Lang Thang Cõi Người (2021 – Thơ), Triết Học & Thiền Bên Dòng Văn Thơ (2021), Lặng Im Tiếng Đời (2022 – Thơ), Lời Của Dòng Sông (2023 – Thơ), Bóng Đổ Tình Yêu & Chiến Tranh (2024 – Tuyển tập truyện ngắn), Sương Khói Nhẹ Bay (2026 – Thơ).

        Ðiều thú vị là tất cả tác phẩm đều được chính tay ông trình bày, dàn trang và thiết kế bìa, thể hiện sự tận tâm và đam mê nghệ thuật trong từng chi tiết.

        Tế Luân không chỉ là một nhà thơ, mà là một người kể chuyện của thế hệ bị lãng quên,người sống sót từ bom đạn, từ những trại tù cộng sản, để ghi lại những mảnh đời tan nát, bằng thơ, bằng nhạc, bằng hồi ký.

Bài thơ Điểm Trên Da Thịt Vô Thường Tàn Phai của nhà thơ Tế Luân là một một ví dụ:

Đường đời vạn nẻo nhấp nhô
Dặm trường gió bụi biển xô sóng gào
Thôi thì cũng mặc ra sao
Trôi theo thân phận, vận vào nghiệp mang.

Bàn cờ chưa đánh đã tan
Đời trai chinh chiến dọc ngang đất trời
Đạn bom khói lửa tơi bời
Cuồng điên nấc nghẹn, đất trời tang thương

Đạn thù hằn dấu vết thương
Điểm trên da thịt vô thường tàn phai
Còn nghe như tiếng thở dài
Cơn đau thân phận, hình hài hư hao.

Trôi theo vận nước lao đao

Mai kia dẫu có ra sao kiếp người
Vẫn còn ngạo nghễ tiếng cười
Ưỡn cao bờ ngực nhìn đời hiên ngang.

        Bài thơ là một bản trường ca nhỏ về số phận con người trong bể khổ cuộc đời. Những hình ảnh như “đường đời vạn nẻo nhấp nhô,” “dặm trường gió bụi biển xô sóng gào” không chỉ gợi lên sự gian truân, bấp bênh mà còn là lời nhắn nhủ về những thử thách không thể tránh khỏi trong hành trình sống.

        Những câu thơ thể hiện sâu sắc nỗi đau và mất mát của một đời trai trận, với “đạn bom khói lửa tơi bời,” “cuồng điên nấc nghẹn,” như một minh chứng cho những vết thương thể xác lẫn tinh thần không dễ lành lại. “Điểm trên da thịt vô thường tàn phai” vừa là vết sẹo chiến tranh vừa là biểu tượng cho sự phai mờ của thời gian và kiếp người.

        Dù cuộc đời có đầy rẫy đau thương, bài thơ vẫn toát lên một tinh thần kiên cường, “vẫn còn ngạo nghễ tiếng cười,” “ưỡn cao bờ ngực nhìn đời hiên ngang.” Đây là một khúc ca của ý chí, một lời khẳng định mãnh liệt về sự bất khuất và lòng tự hào của con người trước số phận nghiệt ngã.

        Bài thơ “Em Cúi Xuống” là tiếng khóc cho những người lính nằm xuống, đã thể hiện rõ nhất linh hồn của thi sĩ Tế Luân:

Em cúi xuống để rơi ngàn giọt lệ
Khóc cho đất, cho mộ đá không tên
Cho đêm về lung linh ngọn nến trắng
Tấm thẻ bài chợt lóe sáng trong đêm.

Em cúi xuống thắp nén nhang tình nghĩa
Ngọn gió chiều làn khói tỏa bay cao
Đời chiến sĩ, linh thiêng còn vọng lại
Giữ Quê hương. Hồn bất khuất tự hào.

Em cúi xuống chắp tay quỳ bái lậy
Lệ tuôn trào vị mặn thấm trên môi
Thời chinh chiến viết đầy trang Quân Sử.
Sao còn nghe lòng trĩu nặng khôn nguôi.

Em cúi xuống lệ tuôn trào thương xót
Khóc cho người vì Tổ Quốc Vong Thân
Việt Nam ơi! Lắng nghe hồn sông núi.
Ngọn lửa thiêng, thắp sáng bóng chinh nhân.

        Bài thơ này là một khúc ca đầy xúc động, chứa đựng nỗi đau thương sâu sắc và lòng thành kính đối với những người đã hy sinh cho đất nước. Hình ảnh “em cúi xuống để rơi ngàn giọt lệ” mở đầu như một cảnh tượng bi thương, như lời nhắn nhủ về sự tiếc thương vô hạn dành cho những mộ đá vô danh, những người lính không tên nhưng mãi sống trong ký ức quê hương.

        Những câu thơ tiếp theo như “thắp nén nhang tình nghĩa,” “linh thiêng còn vọng lại” toát lên tính tâm linh và sự tri ân chân thành, thể hiện niềm tin rằng linh hồn các chiến sĩ vẫn luôn canh giữ, bảo vệ quê hương một cách bất khuất và đầy tự hào. Hình ảnh “ngọn gió chiều,” “làn khói tỏa bay cao” trở thành biểu tượng thiêng liêng, không bao giờ tắt của lòng biết ơn và ký ức.

        Theo thi sĩ Tế Luân cho biết, bài thơ đã được hai nhạc sĩ phổ nhạc và trở nên phổ biến trên YouTube. Trong đó, có một ca khúc dựa trên bài thơ này mà tôi đã đổi tên thành “Giọt Nước Mắt Khóc Cho Quên Hương.”

        Thơ Tế Luân là những khúc ca đượm nỗi nhớ, nỗi đau và cả sự trân trọng cuộc đời dù đầy bất trắc, mất mát. Qua từng câu chữ, người đọc cảm nhận được hình ảnh người lính, người chiến sĩ với trái tim nhạy cảm, luôn hướng về quê hương, về những ký ức chiến tranh mà vẫn giữ trọn niềm tự hào và niềm tin vào cuộc sống. Những bài thơ như “Bóng Người Xưa” hay “Mùa Xuân Trong Tù” không chỉ là hồi ức mà còn là sự khắc khoải, lời tri ân sâu sắc dành cho những người đã ngã xuống và những năm tháng tù đày đầy gian khó.

“Chiều giới tuyến, sau bao năm cách biệt
Ta về thăm, bia mộ đá hoang sơ
Đất im lặng, cỏ buồn phơi sắc úa
Bóng người xưa, hồn đá vẫn tôn thờ.”

(Bóng Người Xưa)

        Đoạn thơ vừa nhẹ nhàng vừa sâu lắng, hiện lên hình ảnh đầy xúc động của người trở về sau chiến tranh, trước những bia mộ hoang phế nhưng vẫn đầy linh thiêng, thấm đẫm tâm huyết và lòng thành kính.

“Xuân chợt đến, quặn đau nỗi nhớ
Kiếp thân tù, tàn giấc thiên thu.
Tết đến còn mang nặng kiếp tù
Ngắm hoa buồn tựa lá mùa thu.”

(Mùa Xuân Trong Tù)

        Câu thơ lay động lòng người, khiến ta thấu hiểu cái khắc khoải, cô đơn và nỗi đau đớn của người tù xa nhà trong những ngày Tết, mùa xuân đầy hy vọng mà lại trở nên ảm đạm.

        Không chỉ viết về chiến tranh, tù đày, Tế Luân còn thể hiện chiều sâu thiền đạo, sự chiêm nghiệm về kiếp người, sự bình thản và tĩnh lặng trong tâm hồn. Thơ ông như một hành trình tìm về nội tâm, nơi cái “tôi” được thả trôi giữa dòng đời phù du, để rồi nhận ra sự vô thường của cuộc sống và sự bất diệt của tâm linh.

“Ngồi trong tư thế kiết già   
Tĩnh tâm nhập định, mở ra cõi lòng
Để hồn vào chốn hư không
Tâm không giao động, hoài mong lòng trần.”

(Lục Bát Và Thiền Đạo)

        Phần này thể hiện sự giao hòa giữa thi ca và thiền đạo trong tâm hồn nhà thơ, một chiều sâu tĩnh lặng, một sự buông bỏ những phiền muộn để tìm về sự bình yên trong tâm.

“Tôi thấy vết nhăn hằn trên gương mặt
Từ vết nứt mọc ra một câu thơ
Ý thơ sâu thẳm từ trong ký ức
Hiện hóa thân tôi như một giấc mơ.”

(Gương Mặt Thi Nhân)

        Đoạn thơ tự sự, thể hiện sự hòa quyện giữa cuộc đời với thi ca, những dấu vết thời gian không chỉ là vết tích của tuổi tác mà còn là nguồn cảm hứng bất tận để sáng tạo.

        Thơ Tế Luân đặc biệt khắc họa sự hòa quyện tinh tế giữa thiên nhiên và cảm xúc. Từ vầng trăng, lá thu, sương khói đến cánh đồng xanh, mùa xuân… mỗi hình ảnh thiên nhiên đều trở thành biểu tượng cho những cảm xúc đa dạng: hoài niệm, yêu thương, hy vọng và cả sự sám hối.

        Tình yêu trong thơ Tế Luân không chỉ là những phút giây ngọt ngào mà còn mang đầy trăn trở, chia ly và cả sự chờ đợi âm thầm nhưng đầy hy vọng. Đó là tình yêu không ồn ào mà sâu sắc, lặng thầm mà bền bỉ. Ký ức và nỗi nhớ trong thơ ông trở thành một dòng chảy miên man vừa nhẹ nhàng, sâu lắng, vừa mộc mạc nhưng giàu cảm xúc. Mỗi hình ảnh, mỗi vần thơ như một mảnh ghép gợi lại một thời đã xa, đầy hoài niệm.

“Tôi chia nửa vầng trăng
Một bên là chốn cũ
Bên kia vào giấc ngủ
Tìm lại chốn xa xưa.”

(Vầng Trăng Thu Chia Nửa)

        Đây là đoạn thơ mang đậm tính biểu tượng. Vầng trăng, biểu tượng của sự tròn đầy, của đoàn viên, lại bị chia đôi, như chính tâm hồn người thi sĩ đang bị xé thành hai nửa: một nửa ở lại với “chốn cũ,” nửa kia phiêu du trong giấc ngủ, tìm về miền ký ức xưa cũ? Giấc mơ và hiện thực, quá khứ và hiện tại đan xen tạo thành không gian mơ hồ, mênh mang và thiền vị. Vầng trăng trong thơ Tế Luân không chỉ là hình ảnh của thiên nhiên, mà còn là tâm trạng, là linh hồn đang đi tìm lại chính mình trong quá khứ đã nhạt nhòa.

“Sáng nay lá thu bay
Gió lùa vào chân mây
Hạt sương thu lạnh lẽo
Đọng trên ngọn tình đầy.”

(Buổi Sáng Sương Thu)

        Ở đây, thiên nhiên hiện lên như một chiếc gương phản chiếu cảm xúc. Lá thu rơi, biểu tượng của thời gian và sự tàn phai, cuốn theo gió, mang theo những vỡ vụn của ký ức. Đặc biệt, “hạt sương thu lạnh lẽo” đọng trên “ngọn tình đầy” là một hình ảnh đầy chất thơ và tính biểu cảm. Đó không chỉ là hạt sương của tự nhiên, mà còn là giọt nước mắt không thành tiếng trong một tình yêu lặng thầm, cô đơn. Sự tương phản giữa cái “đầy” và cái “lạnh lẽo” càng làm bật lên tính chất mong manh và dễ vỡ của cảm xúc.

“Mênh mông sương khói nhẹ bay
Em xòe tay bắt chùm mây sương mù
Tưởng rằng nắm cả thiên thu
Nào ngờ một nhúm phù du hão huyền.”

(Mênh Mông Sương Khói)

        Đoạn thơ mang đậm màu sắc triết lý, thể hiện nhận thức sâu sắc của nhà thơ về sự phù du, mờ ảo của kiếp người. Hành động “xòe tay bắt chùm mây” tượng trưng cho khát khao nắm giữ cái đẹp, cái lý tưởng, nhưng cuối cùng, tất cả chỉ là “một nhúm phù du hão huyền.” Câu thơ như một tiếng thở dài, nhưng không bi lụy. Đó là sự tỉnh thức, là cái nhìn chín chắn và siêu thoát trước vòng quay vô thường của cuộc đời.

“Xuân về nhớ cánh đồng xanh   
Mênh mông lúa trổ nghiêng cành đón xuân
Khói lam vờn mái tranh già
Bếp hồng mẹ nhóm đậm đà tình thân.”

(Nhớ Xuân Quê Cũ)

        Ở đây, Tế Luân trở về với nỗi nhớ quê hương, một vùng ký ức đầy yêu thương và bình yên. Cánh đồng lúa, mái tranh, khói lam, bếp hồng… tất cả hiện lên như một bức tranh quê dân dã, nhưng chan chứa tình mẫu tử và cảm xúc gia đình. “Bếp hồng mẹ nhóm” không chỉ là hình ảnh vật lý, mà còn là nơi giữ lửa cho tình thân, là biểu tượng cho sự ấm áp của ký ức, của những mùa xuân tuổi thơ không bao giờ phai nhạt.

        Với Tế Luân, thơ ca không chỉ là phương tiện biểu đạt cảm xúc, mà là máu thịt của tâm hồn, là tiếng vọng của ký ức và niềm tin sâu sắc vào cuộc đời. Ông viết bằng tất cả những trải nghiệm từng trải qua. Chiến tranh. Chia ly. Tù đày. Và… cả những khoảnh khắc tĩnh lặng của thiền định. Thơ ông không ồn ào, không bi lụy, mà lặng lẽ chạm vào những tầng sâu nhất trong trái tim người đọc, nơi chất chứa nỗi nhớ, niềm yêu và khát vọng sống.

        Mỗi bài thơ như một cánh cửa mở ra thế giới nội tâm đầy trăn trở nhưng cũng giàu hy vọng. Từ nỗi đau của những người đã ngã xuống vì Tổ quốc, đến vẻ đẹp bình dị của quê hương, tình mẫu tử, tình yêu, và sự giác ngộ trong cõi thiền, tất cả đều hòa quyện thành một dòng chảy thi ca đậm chất nhân văn và triết lý.

Như một tuyên ngôn sống, câu thơ:

“Vẫn còn ngạo nghễ tiếng cười
Ưỡn cao bờ ngực nhìn đời hiên ngang.”

        Tất cả như đã kết tinh khí chất thi sĩ: kiên cường, ngẩng cao đầu giữa cuộc đời nhiều biến động. Ở Tế Luân, người ta không chỉ tìm thấy cái đẹp của ngôn từ, mà còn thấy cả tinh thần bất khuất, sự điềm nhiên trước vô thường, và một niềm tin không đổi vào giá trị của con người và nghệ thuật.

        Thơ Tế Luân; vì thế, không chỉ để đọc, mà để cảm, để lắng nghe và để soi chiếu chính mình trong đó.

Y Thi Võ Phú






Tôi là một họa sĩ. Hình do Gemini Ai thực hiện.
Thật ra tôi cũng là một họa sĩ nghiệp dư. tôi vẽ rất nhiều tranh, đủ thể loại.


Tranh sơn dầu trên vải (Tôi vẽ Con gái tôi)


Tôi Vẽ Hai Con Của Tôi
Tranh sơn dầu trên vải. Bức tranh này tôi vẽ khi còn ở Sài Gòn VN.
Khi định cư tại Hoa Kỳ, tôi đã tháo tranh ra khỏi khung gỗ, 
cuộn lại đem sang Mỹ. Tôi đã làm lại trong một khung hình 
"có tấm Kính bảo vệ" đẹp hơn.



Nghe Nhạc Trên Youtube

Xin Mời thưởng thức ca Khúc Giọt Nước Mắt Khóc Cho Quê Hương
Nhạc Thiên Phương - Phô Thơ Lê Tuấn (Em cúi xuống)
Music Video By Editor Louis Tuấn Lê




Ca Khúc Viết trong tù tập trung tại 
Miền Bắc Hoàng Liên Sơn
Ca Khúc Vết Loang Đọa Đầy


Mùa Xuân Trong Tù
Trại 6 Thanh Chương Nghệ Tĩnh






Chiều Nhạc: Tác Giả và Tác Phẩm VTLV Tổ Chức

 Chiều Nhạc Tác Giả và Tác Phẩm VTLV Tổ Chức Tại San Jose Một thước phim ghi lại những khoảnh khắc đáng nhớ của chương trình “Tác Giả và Tác...