250 Năm Nhìn Lại Một Ngọn Đuốc Tự Do Hoa Kỳ - July 4, 2026

 

250 NĂM NHÌN LẠI MỘT NGỌN ĐUỐC TỰ DO


Ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ. Đêm nay, bầu trời nước Mỹ sẽ lại bừng sáng. Hàng triệu pháo hoa sẽ nở rộ trên bầu trời của năm mươi tiểu bang, từ những thành phố ven Đại Tây Dương đến bờ biển Thái Bình Dương xa thẳm.

Mỗi pháo hoa là những tia sáng rực rỡ không chỉ là niềm vui của một ngày lễ quốc gia, mà còn là ánh hồi quang của lịch sử, của lòng quả cảm, của những hy sinh và khát vọng tự do đã thắp lên ngọn đuốc bất diệt suốt hai trăm năm mươi năm qua.

Hai trăm năm mươi năm. Một phần tư thiên niên kỷ. Đó không chỉ là chiều dài của thời gian, mà là chiều sâu của ký ức, của máu và nước mắt, của niềm tin và ý chí mà biết bao thế hệ người Mỹ đã cùng nhau gìn giữ và vun đắp.

Nhìn lại hành trình ấy, ta như nghe lại tiếng chuông lịch sử ngân vang từ mùa hè năm 1776. Từ mười ba thuộc địa nhỏ bé nằm dọc bờ biển phía Đông, những con người bình thường nhưng mang trong mình một khát vọng phi thường đã quyết định đứng lên chống lại một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ.

Ngày 4 tháng 7 năm ấy, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập được công bố, khai sinh một quốc gia mới, được xây dựng trên những nguyên lý thiêng liêng và táo bạo: quyền được sống, quyền được tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Nhưng con đường của tự do chưa bao giờ là con đường trải đầy hoa hồng.

Quốc gia non trẻ vừa mới ra đời đã phải đối diện với những thử thách khốc liệt của chiến tranh, nghèo đói và chia rẽ.

Có những thời khắc tưởng như ngọn đèn tự do sẽ bị dập tắt ngay trong buổi bình minh của lịch sử. Đó là mùa đông lạnh giá năm 1776, khi đội quân cách mạng kiệt quệ, đói rét và thiếu thốn mọi thứ. Trên những cánh đồng phủ đầy tuyết trắng, dấu chân rớm máu của những người lính vô danh đã trở thành nền móng cho sự trường tồn của một quốc gia.

May mắn thay, vào thời khắc quyết định ấy, nước Mỹ đã có những nhà kiến tạo vĩ đại, những con người dám đặt cược cả sinh mạng và danh dự của mình vào một ý tưởng tưởng chừng không thể thực hiện: xây dựng một quốc gia của người dân, do người dân và vì người dân. Họ không chỉ chiến thắng bằng gươm súng, mà còn chiến thắng bằng niềm tin vào phẩm giá con người và quyền tự quyết của một dân tộc.

Rồi lịch sử tiếp tục thử thách nước Mỹ bằng những cuộc nội chiến đau thương, bằng những cuộc chiến tranh thế giới khốc liệt, bằng những cuộc khủng hoảng tưởng chừng không thể vượt qua. Nhưng chính trong những cơn bão tố ấy, sức mạnh của tinh thần tự do lại được tôi luyện và tỏa sáng hơn bao giờ hết.

Cuộc Nội chiến thế kỷ XIX đã xóa bỏ xiềng xích nô lệ và hàn gắn một quốc gia từng đứng bên bờ vực tan vỡ. Những đoàn người tiên phong tiến về miền Tây đã mở rộng biên cương đến tận bờ Thái Bình Dương. Thế kỷ XX chứng kiến nước Mỹ vươn lên trở thành thành trì của nền dân chủ thế giới, dẫn đầu những bước tiến kỳ diệu của khoa học, kinh tế và công nghệ.

Từ chiến thắng trong các cuộc đại chiến đến bước chân đầu tiên của con người trên Mặt Trăng, từ cuộc cách mạng công nghiệp đến kỷ nguyên kỹ thuật số, hành trình ấy đã trở thành một thiên anh hùng ca của ý chí và sáng tạo.

Nhưng khi nhìn lại hai trăm năm mươi năm lịch sử Hoa Kỳ, điều làm người ta xúc động nhất không phải là sức mạnh quân sự, sự giàu có hay những thành tựu khoa học.

Điều đáng kính phục nhất chính là khả năng đứng dậy sau những thất bại, khả năng tự sửa chữa những sai lầm của mình, và trên hết, là niềm tin chưa bao giờ tắt vào giá trị của tự do.

Đêm nay, khi những đóa pháo hoa lại nở rộ trên bầu trời nước Mỹ, chúng ta không chỉ mừng một ngày lễ. Chúng ta đang cùng nhau tưởng nhớ những người đã ngã xuống, tri ân những thế hệ đã hy sinh, và hồi tưởng về hành trình kỳ diệu của một quốc gia đã giữ cho ngọn đuốc tự do cháy sáng suốt hai trăm năm mươi năm qua.

Bởi cuối cùng, điều làm nên sự vĩ đại của nước Mỹ không chỉ là sức mạnh của một siêu cường, mà là niềm tin bất diệt rằng: con người sinh ra đều có quyền được sống trong tự do, phẩm giá và hy vọng.

Và đó chính là ngọn lửa sẽ còn tiếp tục cháy mãi, không chỉ trong trái tim người Mỹ, mà trong trái tim của tất cả những ai còn tin vào giá trị thiêng liêng của tự do.



250 NĂM RỰC LỬA TỰ DO

Tháng Bảy trời xanh, tự hào nước Mỹ,
Mừng ngày Độc Lập thuở ấy năm xưa.
Hai trăm năm mươi mùa hè đã qua,
Mà ngọn lửa Tự Do còn rực cháy.

Philadelphia, tiếng chuông thức tỉnh,
Vang lời thề lay động cả nhân gian.
Những con người cùng dựng xây lịch sử,
Đem sinh mệnh đổi lấy quyền tự do.

Có những cánh đồng thấm màu huyết lệ,
Có những chiến trường phủ bóng tử sinh.
Nhưng trên tro tàn bão tố điêu linh,
Lá cờ vẫn bay cùng niềm bất khuất.

Hai trăm năm mươi năm ngày lập quốc,
Không chỉ là con số của thời gian.
Là sử thi của triệu triệu trái tim,
Viết bằng máu cho huy hoàng dân tộc.

Mười ba bang mở đầu trang lịch sử,
Năm mươi bang cùng chung một nhịp đời.
Dòng sông rộng, núi cao và đồng cỏ,
Đều vọng về hai tiếng gọi Tự Do.

Tự do chẳng sinh ra từ phép lạ,
Mà sinh từ nghị lực của con người.
Là ngọn đuốc giương cao cháy muôn đời,
Để con cháu bước đi không cúi mặt.

Bao thế hệ đến từ muôn vùng đất,
Mang khổ đau, hy vọng đến nơi này.
Họ tìm thấy dưới bầu trời sao sáng,
Một quê hương của trách nhiệm tin yêu.

Hôm nay pháo hoa bừng lên rực rỡ,
Soi dòng người đang hát khúc khải hoàn.
Hai trăm năm mươi năm sử vàng son,
Ngọn đuốc sáng vẫn soi đường phía trước.

Xin cúi đầu trước anh hùng đi trước,
Đã giữ ngọn đèn sáng giữa đêm sâu.
Để hôm nay và mãi mãi về sau,
Nước Mỹ vẫn là biểu tượng khát vọng.

Hỡi ngọn lửa từ mùa hè năm ấy,
Xin cháy hoài trong triệu triệu con tim.
Cho nhân loại còn tin giữa bóng đêm,
Rằng Tự Do là quà thiêng cao quý.

Khi tiếng chuông lịch sử lại ngân vang,
Trên bầu trời tháng Bảy đầy sao sáng,
Nhân loại còn nhớ tuyên ngôn bất diệt:
Con người sinh ra bình đẳng, tự do.

Tế Luân
Chào mừng Ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
Kỷ niệm 250 năm lập quốc

 





Lễ Độc Lập 250 Năm Dựng Nước Hoa Kỳ Và Bản Hùng Ca Hai Nửa Bán Cầu: George Washington Và Vua Quang Trung Cùng “Vượt Sông” Xoay Chuyển Vận Mệnh Quốc Gia!

18db46b9-ad8a-46a9-adc6-a3fee8ba6c7d.png

(Phương Hoa)

-250 Năm rực lửa Tự Do. Tháng Bảy về mang theo cái nóng cháy da của mùa hè nước Mỹ, nhưng có một ngọn lửa còn cháy bỏng hơn thế, đang bùng lên mạnh mẽ trong hàng triệu trái tim khắp mọi miền 50 Tiểu Bang. 

Đó là ngọn lửa của Ngày Lễ Độc Lập 4 Tháng 7.  Và năm nay, ngọn lửa ấy mang một tầm vóc lịch sử vô tiền khoáng hậu,“Lễ  Kỷ Niệm 250 Năm Lập Quốc Hoa Kỳ!

Một phần tư thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi tiếng Chuông Tự Do vang lên tại Philadelphia, lay chuyển toàn cầu và khai sinh ra một quốc gia của những điều kỳ diệu. Hai trăm năm mươi năm, một hành trình hiển hách được dệt bằng máu, nước mắt, ý chí sắt đá, và khát vọng tự do cháy bỏng của bao thế hệ. Hôm nay, bầu trời nước Mỹ sẽ được thắp sáng bởi hàng triệu đóa hoa lửa rực rỡ, được đốt lên bởi tinh thần quả cảm kiêu hùng của một biểu tượng tự do trường tồn, từ sau những cuộc hành trình đầy kiêu hãnh của cha ông.

jiojiopjopjopjopjopjop.jpg

Nhìn lại lịch sử của quốc gia 250 tuổi Hoa Kỳ từ những nền móng đầu tiên. Năm 1776.  Tất cả bắt đầu từ 13 thuộc địa sơ khai, nơi những con người quả cảm không chịu cúi đầu trước ách thống trị của Vương Quốc Anh. Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bất hủ vang lên, chính thức khai sinh ra Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ dựa trên nền tảng thiêng liêng. Đó là Quyền sống, Quyền tự do, và Quyền mưu cầu hạnh phúc. 

Nhưng ở Thế kỷ XVIII đó, con thuyền nước Mỹ vừa nhổ neo ra khơi đã phải vượt qua những thác ghềnh khốc liệt. May mắn thay, những bậc tiền khai lập quốc của Hoa Kỳ chính là những “kiến trúc sư” tài năng tột bực của tự do.  Cuộc Nội chiến 1861 - 1865 tuy đau thương nhưng đã xóa bỏ xiềng xích nô lệ, hàn gắn vết thương chia rẽ và khẳng định một khối thống nhất quốc gia vững bền.  Đi cùng với đó là cuộc mở rộng bờ cõi về miền Tây hoang dã, định hình nên một lãnh thổ bao la từ bờ Đại Tây Dương sang bờ Thái Bình Dương.

mml;ml'mlmlml'mlm,l.jpg

Hoa Kỳ đã vươn mình thành siêu cường thế giới từ Thế kỷ XX.  Bước qua hai cuộc Thế chiến khốc liệt, Hoa Kỳ trở nên thành trì bảo vệ nền dân chủ toàn cầu và đã bứt phá ngoạn mục về kinh tế, khoa học, và công nghệ. Từ bước chân đầu tiên của con người trên Mặt Trăng đến cuộc cách mạng kỹ thuật số (Digital), Mỹ khẳng định vị thế siêu cường không thể lay chuyển.  Đằng sau thiên anh hùng ca uy dũng đó là tầm vóc của trí tuệ kiệt xuất.  Những “khai quốc công thần” của nước Mỹ đã dám đặt cược cả mạng sống vào một ý tưởng điên rồ lúc bấy giờ.  Đó là, tạo nên một đất nước của người dân, do người dân, và vì người dân.

George Washington, vị “Cha già dân tộc” là Tổng tư lệnh quân đội toàn Lục địa, người đã  lãnh đạo trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất để giành lấy độc lập.  Ông là biểu tượng của sự hy sinh và lòng chính trực, người đầu tiên từ bỏ quyền lực để đặt nền móng cho nền dân chủ bền vững.

Nhưng lịch sử không phải là một con đường trải đầy hoa hồng. Để hiểu vì sao ngọn đuốc tự do

lại có thể rực cháy suốt 250 năm, chúng ta phải nhìn vào khúc quanh sinh tử khốc liệt nhất của nước Mỹ. Đó là đêm Giáng sinh năm 1776.  Lúc bấy giờ, cuộc Cách Mạng Mỹ đang đứng bên bờ vực phá sản.  Đội quân Lục Địa của Tướng George Washington rách rưới, đói khát, thiếu hụt từ manh áo đến đôi giày. Giữa cái lạnh thấu xương của mùa đông Valley Forge, máu từ những bàn chân trần của người lính Mỹ đã nhuộm đỏ cả tuyết trắng. Ai cũng nghĩ rằng quốc gia non trẻ này sẽ nhanh chóng bị chôn vùi. 

Nhưng lịch sử luôn dành chỗ cho những kẻ quả cảm nhất. Vào đêm định mệnh ngày 25 tháng 12 năm 1776, khi đối phương đang say sưa tiệc tùng Giáng Sinh, Washington đã đưa ra một quyết định táo bạo bậc nhất lịch sử quân sự: Vượt sông Delaware.

jijjopjopjopjopjopjop.jpg

Trên một dòng sông ngập ngụa những tảng băng trôi, gió tuyết gầm rú quật thẳng vào mặt. Trên những chiếc thuyền gỗ chông chênh, đoàn quân của Washington lầm lũi tiến vào màn đêm vì khát vọng tự do cháy bỏng trong lồng ngực. Cuộc tập kích bất ngờ vào thị trấn Trenton ngay sau đó đã thành công vang dội, thổi bùng lên ngọn lửa hy vọng đã nguội lạnh, chứng minh cho cả thế giới thấy sức mạnh của một dân tộc chiến đấu vì tự do!

Đọc lại chiến công hiển hách này của nước Mỹ, tâm tư tôi bỗng dưng rúng động bàng hoàng.  Chợt nhiên tôi nhớ ra, trong lịch sử nước nhà của quê hương tôi cũng từng có một chiến thắng đầy cuồng phong và sấm sét như thế.  Và quả thật, khi lật lại những trang sử vàng của dân tộc Việt, tôi đã tìm ra, cách mà nước Mỹ non trẻ nửa vòng Trái Đất làm, cũng có một dân tộc kiên cường đã từng viết nên một phép màu y hệt. Một sự trùng hợp đến thần kỳ.  Hành động vượt sông băng của George Washington năm 1776 chính là “tấm gương phản chiếu” của cuộc vượt sông Đáy thần tốc do Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo năm 1789 tại nước Việt!

Cả hai vị thiên tài quân sự đã gặp nhau ở cùng một tư tưởng lớn. Đó là, Tốc độ, Bất ngờ, và Chọn thời điểm kẻ thù sơ hở nhất!  Ý tưởng và hoàn cảnh giống hệt, đêm vượt sông Delaware của Washington là một bức tranh sơn dầu lấp lánh đầy băng giá trong đêm Giáng Sinh, và đêm vượt sông Đáy của vua Quang Trung là một bức họa cuồng phong rực lửa. Đêm 30 Tết Kỷ Dậu, khi quân xâm lược Mãn Thanh dưới sự chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị còn đang mải mê ca hát, tiệc tùng ăn Tết cổ truyền và đinh ninh rằng quân ta ra Giêng mới dám đánh, thì trên dòng sông Đáy (đồn Gián Khẩu), hàng vạn chiến binh Tây Sơn đã lặng lẽ vượt sông.

mopmolmlmlml;m;.jpg

Im lìm không tiếng động, trong đêm đen không một ánh lửa, quân Tây Sơn thần tốc vây chặt và bắt gọn toàn bộ toán quân do thám tiền tiêu của địch, khiến hệ thống phòng thủ của quân Thanh hoàn toàn bị “mù mịt thông tin” ngay từ phát súng đầu tiên. Sự phong tỏa tình báo tài tình này đã mở đường cho cuộc hành quân chớp nhoáng vô tiền khoáng hậu để làm nên trận đại thắng Ngọc Hồi - Đống Đa kinh thiên động địa.  Đến Mùng 5 Tết, cả thành Thăng Long rung chuyển trong khói lửa ngút trời, Tôn Sĩ Nghị khiếp sợ đến vỡ mật, không kịp đóng yên ngựa, vứt bỏ ấn tín mà tháo chạy qua sông Hồng.  Thây giặc Tàu tầng tầng lớp lớp làm nghẽn cả dòng nước.

Tìm được những thông tin này, tôi xúc động gần như nghẹt thở.  Phải kiếm thêm bằng chứng thuyết phục hơn để tôi còn có thể “khoe” với những người bạn Mỹ của tôi trong Hội Cựu Chiến Binh Không Quân Hoa Kỳ  “Tan Son Nhut Association (TSNA)” mà mấy chục năm nay chúng tôi vẫn thường chia sẻ cho nhau những thông tin, bài viết tiếng Anh, về quê hương Việt Nam.

nmkopm;ml;ml;ml;ml;.jpg

Trận Đống Đa oai hùng ấy tôi vốn đã nghe kể và đã được học từ thuở ấu thơ, cũng từng đọc qua nhiều sử sách.  Để tìm kiếm những nguồn tài liệu độc lập, những bằng chứng đanh thép nhất bằng tiếng Anh, tôi đã trải qua nhiều giờ tìm kiếm và “mò” vào hệ thống lưu trữ cổ thư trực tuyến HOLLIS (Harvard Online Library Information System) của Đại học Harvard danh tiếng.

Thư Viện Harvard thông tin dày đặc như rừng rậm.  Cái khoảnh khắc copy cụm từ chữ Hán theo “anh Gút” bày,  “欽定安南紀事” (Khâm Định An Nam Kỷ Sự - cũng nhờ anh Gút dịch, xin nói rõ kẻo những nhà Hán Học uyên thâm lại mắng cho rằng tôi sao dám múa rìu qua mắt thợ.) và thảy vào tìm kiếm, thì nó hiện lên nguyên bản ngập tràn những dòng chữ Hán tượng hình từ thế kỷ XVIII, tim tôi bỗng đập liên hồi như một kẻ vừa tìm ra kho báu bị chôn giấu.

 Tôi lập tức dùng công cụ Google dịch trên iPhone rọi vào, hồi hộp xem từng ký tự vuông vức, cổ kính ấy được chuyển sang tiếng Việt.  Và rồi, một cảm giác nổi da gà, dựng chân lông, vừa ngạc nhiên tột độ, lẫn thích thú vô bờ, choáng ngợp lấy tâm trí tôi!

 Tôi ngồi sững sờ, xúc động đến phát khóc cho sự khám phá này.  Hiện ra trước mắt tôi là những dòng sớ tấu ngày xưa rõ mồn một như những hàng chữ Hán tôi thường thấy trong phim Tàu.  Dịch ra tiếng Việt là những lời thú nhận nghe như run rẩy, nghe như kinh hoàng của chính Sử Quan triều đình nhà Thanh ghi chép lại. 

Vì là Chiếu Chỉ triều đình phong kiến nên sách cho đọc theo lối từ phải sang trái và từ trên xuống dưới.  Những Bản Văn này ghi đầy đủ các Sắc Dụ của Hoàng Đế Càn Long ban xuống cho Tôn Sĩ Nghị, Phúc Khang An, cùng các tấu sớ của các tướng lĩnh báo cáo tình hình chiến sự kinh hoàng khi bị quân Tây Sơn quét sạch...

nnklnknknklnklnklnkl.jpg

Lưới trời lồng lộng, sử giặc rành rành, những kẻ xâm lượt đã tình cờ để lại những bằng chứng nhục nhã cho thế giới đọc! Qua lăng kính dịch thuật từ những bản văn lưu giữ tại Harvard, sự thật ngày xưa đã hiện ra mồn một. Sử sách quân Thanh thừa nhận đã bị quân dân Việt đánh cho tan tác, chết sạch ở các đồn tiền tiêu ven sông Đáy, không một tên nào kịp chạy về báo tin, và đại quân Thanh ở Thăng Long vào thế bất lực hoàn toàn trước trận bão lửa của đoàn quân vua Quang Trung.

Ngồi trước màn hình máy tính, nhìn con dấu đỏ hoàng gia của Hoàng Đế Càn Long trên trang sách cổ của Harvard, thứ mà trước nay tôi chỉ thấy qua phim ảnh, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động và tự hào dân tộc mãnh liệt. Thì ra, chân lý và niềm kiêu hãnh của người Việt chưa bao giờ phai nhạt, nó vẫn nằm trang trọng ở đó, giữa trung tâm tri thức của thế giới, chờ chúng ta mở ra xem! Quả là hồn thiêng sông núi nước Nam đã dành cho con cháu đời sau một bất ngờ quá lớn.

mopml;ml;ml;ml;ml;ml;m.jpg

Năm tháng sẽ trôi qua, lớp bụi thời gian có thể làm mờ đi nhiều thứ, nhưng ký ức về những đêm vượt sông định mệnh của Tướng George Washington và Hoàng Đế Quang Trung sẽ mãi là những mốc son chói lọi trong lịch sử nhân loại. 

Hai trăm năm mươi năm nước Mỹ kiêu hùng nhìn lại chặng đường lập quốc đầy huyền thoại, cũng là lúc chúng ta, những người con mang trong mình dòng máu Việt, nghiêng mình trân kính trước hào khí sấm sét của cha ông.

Cho nên, tự do không bao giờ là một món quà sẵn có. Dù ở bờ bên kia của đại dương hay trên mảnh đất hình chữ S thân thương, sự khát vọng về tự do và độc lập vẫn luôn luôn là một.

Khi tiếng pháo hoa rực rỡ thắp sáng bầu trời đêm Lễ Độc Lập 4 tháng 7 ở Hoa Kỳ năm nay, người Việt chúng ta hãy để những tâm hồn đồng điệu cùng hòa chung một nhịp đập. Hãy kiêu hãnh mang theo ngọn lửa rực cháy từ quá khứ để sưởi ấm cho hiện tại và soi đường cho tương lai.

  Miễn là thế giới này còn những con người trân trọng giá trị của độc lập, thì bản hùng ca vượt sông của những thiên tài kiệt xuất ngày xưa ấy sẽ còn vang vọng mãi đến muôn đời sau…

(Phương Hoa)


mklmml;ml;ml;ml;ml;m.jpg

 

 


 

 


Cuộc Sống Thi Ca


KHI CON NGƯỜI CÒN BIẾT NGẠC NHIÊN - Triết Luận Lê Tuấn

 


KHI CON NGƯỜI

CÒN BIẾT NGẠC NHI


Triết luận và đời sống – Louis Tuấn Lê

 

Có lẽ bi kịch lớn nhất của con người không phải là nghèo khó, bệnh tật hay tuổi già. Bi kịch lớn nhất là đến một ngày nào đó, ta không còn biết ngạc nhiên nữa.

Thế giới chưa bao giờ trở nên nghèo nàn. Chỉ có đôi mắt con người dần nghèo đi theo năm tháng. Chúng ta lớn lên, học hỏi, tích lũy, chinh phục, đo lường, giải thích; và trong quá trình ấy, nhiều khi ta vô tình đánh mất khả năng dừng lại trước những điều nhỏ bé nhất để thốt lên: "Thật kỳ diệu."

Ngày còn bé, ta có thể ngồi hàng giờ nhìn một đàn kiến tha mồi. Ta ngước nhìn mây bay mà tưởng tượng ra những lục địa chưa từng có. Một cơn mưa cũng đủ làm thành một ngày hội. Một chiếc lá vàng rơi xuống sân cũng có thể khiến ta bâng khuâng cả buổi chiều.

Rồi ta lớn lên.

Ta học cách gọi tên mọi thứ, nhưng bắt đầu quên đi cách nhìn chúng. Ta biết phân tích cấu tạo của một bông hoa, nhưng không còn biết rung động trước vẻ đẹp của nó. Ta biết khoảng cách giữa các vì sao, nhưng không còn nhớ lần cuối cùng mình đứng lặng dưới bầu trời đêm là khi nào.

Nhà triết học cổ đại Aristotle từng nói rằng:

"Triết học bắt đầu từ sự kinh ngạc."

Con người không đặt ra những câu hỏi lớn vì đã biết quá nhiều, mà vì bỗng nhiên nhận ra mình biết quá ít. Tại sao có vũ trụ thay vì không có gì cả?

Tại sao ta hiện diện ở đây? Tại sao một bông hoa lại đẹp? Tại sao cái đẹp lại khiến con người rơi nước mắt?

Mọi nền minh triết lớn của nhân loại đều bắt đầu bằng sự kinh ngạc ấy.

Khi Thái Tử Siddhartha Gautama (Phật Tích Ca) rời khỏi hoàng cung để trở thành Đức Phật, điều khiến ngài thức tỉnh không phải là một lý thuyết, mà là sự kinh ngạc đau đớn trước sự già, bệnh, chết và thân phận con người.

Khi Socrates đi lang thang trên đường phố Athens, ông không tìm kiếm tri thức; ông tìm kiếm sự ngỡ ngàng trước chính sự không biết của mình.

Khi Einstein nhìn lên bầu trời đầy sao, ông từng thú nhận rằng cảm xúc đẹp nhất con người có thể trải nghiệm chính là cảm xúc huyền nhiệm – cảm giác kinh ngạc trước điều không thể hiểu hết.

Có lẽ vì vậy mà Walt Whitman, khi nhìn một ngọn cỏ, đã thấy trong đó lịch sử của các vì sao. Một ngọn cỏ, xét theo khoa học, chỉ là một cấu trúc sinh học. Nhưng với một tâm hồn biết kinh ngạc, nó là cả một phép màu: ánh sáng mặt trời hóa thành màu xanh, đất hóa thành sự sống, và vũ trụ hóa thành một hình hài nhỏ bé đang run rẩy trong gió.

Điều đó không chỉ là thi ca.

Mà tất cả gần như là một tôn giáo của sự hiện diện. Bởi không phải cứ thấy là nhìn. Thấy là việc của mắt; nhìn là việc của tâm hồn.

Ta có thể đi qua cả một khu rừng và không thực sự gặp một cái cây nào. Ta có thể sống cạnh biển suốt đời mà chưa từng nghe được tiếng thở của biển.

Ta có thể ở bên cạnh một con người hàng chục năm mà chưa từng thật sự nhìn thấy sự mong manh và kỳ diệu trong sự hiện hữu của họ.

G.K. Chesterton từng nói rằng thế giới không thiếu phép màu; chỉ có con người đã quen với phép màu đến mức không còn nhận ra chúng nữa.

Mỗi buổi sáng mặt trời mọc là một phép màu. Một đứa trẻ biết cười là một phép màu. Một trái tim còn biết yêu thương cũng là một phép màu.

Hermann Hesse đã dành cả đời mình để trở về với điều ấy.

Ông tìm thấy minh triết không phải trong những hệ thống triết học đồ sộ, mà trong cánh bướm, mảng rêu, giọt sương, đám mây chiều, tiếng sóng biển xa và những khoảng lặng của tâm hồn.

Với Hesse, sự kinh ngạc không phải là một cảm xúc thoáng qua. Nó là khởi điểm của mọi minh triết và cũng là đích đến cuối cùng của mọi minh triết.

Có lẽ đó cũng là điều mà Goethe muốn nói khi ông viết một câu đơn giản đến tận cùng:

"Tôi có mặt ở đây để kinh ngạc."

Chúng ta thường nghĩ trưởng thành là biết nhiều hơn. Nhưng biết đâu trưởng thành thật sự lại là khả năng quay trở về với sự ngạc nhiên ban đầu, sau khi đã đi qua tất cả những hiểu biết của đời mình.

Martin Heidegger cho rằng điều kỳ lạ nhất không phải là những hiện tượng phi thường, mà chính là việc thế giới hiện hữu.

Tại sao lại có một chiếc lá? Tại sao lại có ánh sáng? Tại sao lại có một con người đang đứng đây để đặt câu hỏi ấy? Chỉ cần suy nghĩ đủ lâu về điều đó, ta sẽ hiểu rằng sự tồn tại tự nó đã là một điều đáng kinh ngạc.

Thế nhưng, con người hiện đại dường như ngày càng xa rời khả năng ấy.

Ta sống trong một thời đại mà mọi thứ đều được định giá.

Một khu rừng là gỗ. Một dòng sông là tài nguyên. Một con người là năng suất. Một ngày là hiệu quả. Một đời người là thành tích.

Ta đo lường mọi thứ, ngoại trừ điều làm cho cuộc đời đáng sống.

Đứa trẻ nào sinh ra cũng mang theo đôi mắt biết kinh ngạc. Nó có thể ngồi rất lâu nhìn một con sâu bò trên tường. Nó hỏi tại sao lá cây lại rung. Nó nghe tiếng mưa như nghe một bản nhạc.

Rồi người lớn kéo nó đi.

Phải nhanh lên.
Phải học.
Phải thi.
Phải thành công.
Phải hữu dụng.
Phải cạnh tranh.
Phải chiến thắng.

Và dần dần, đứa trẻ học được cách trở thành một người lớn không còn biết ngạc nhiên nữa.

Đó có lẽ là nghịch lý lớn nhất của nền giáo dục hiện đại.

Ta dạy trẻ em cách đếm, nhưng không dạy chúng cách chiêm ngắm.
Ta dạy chúng cách phân tích, nhưng không dạy chúng cách rung động.
Ta dạy chúng cách chinh phục thế giới, nhưng không dạy chúng cách yêu thương thế giới.

Ta dạy chúng vô số sự kiện, nhưng quên dạy chúng sự kính ngưỡng.

Hermann Hesse từng lo âu rằng các trường đại học có thể đào tạo ra những bộ óc xuất sắc nhưng lại làm nghèo đi linh hồn con người. Một người có thể biết tên của hàng ngàn loài bướm mà chưa từng đứng lặng trước vẻ đẹp của một cánh bướm. Có thể nghiên cứu thiên văn học suốt đời mà không còn biết ngẩng đầu lên trời với lòng kính sợ.

Kiến thức là cần thiết.

Nhưng chỉ kiến thức thôi thì không đủ. Bởi điều làm cho đời sống trở nên sâu sắc không phải là số lượng những gì ta biết, mà là khả năng bị đánh động bởi những gì ta gặp.

Có lẽ vì vậy mà trong một thế giới đầy tiếng ồn, sự kinh ngạc trở thành một hình thức kháng cự âm thầm. Nó chống lại sự vô cảm. Chống lại thói quen chiếm hữu. Chống lại sự kiêu ngạo cho rằng con người là trung tâm của vũ trụ. Trong khoảnh khắc kinh ngạc, ta không còn đứng tách khỏi thế giới nữa.

Ta trở thành anh em với cỏ cây.
Ta trở thành bạn đồng hành của mây gió.
Ta nhận ra mình chỉ là một hơi thở nhỏ giữa vô vàn hơi thở khác đang cùng tồn tại dưới một bầu trời.

Và kỳ lạ thay, chính khi nhận ra mình nhỏ bé, con người lại trở nên lớn lao hơn. Khi ta đứng trước một mảng rêu xanh sau cơn mưa, trước một cánh bướm đậu trên bậc cửa, trước một vì sao cô độc trong đêm hè, hay trước bàn tay già nua của mẹ mình, nếu trong giây phút ấy ta thật sự mở lòng, thì có lẽ ta đã được cứu.

Được cứu khỏi sự khô cằn.
Được cứu khỏi sự kiêu ngạo.
Được cứu khỏi cảm giác cô độc của cái tôi. Và ta hiểu ra rằng sống không phải chỉ là đi qua thời gian.

Sống là còn có thể cúi xuống trước một chiếc lá.
Ngẩng lên trước một vì sao.
Lắng nghe một cơn gió.
Và bàng hoàng nhận ra rằng thế giới, sau tất cả những gì ta tưởng mình đã biết, vẫn còn vô cùng bí mật và đẹp đẽ.

Đến một tuổi nào đó, người ta bắt đầu hiểu rằng điều quý nhất của đời người không phải là những gì mình đã có, cũng không phải những gì mình đã làm được, mà là những gì mình vẫn còn có thể rung động.

Tôi nghĩ vậy vào một buổi chiều cuối xuân ở miền Bắc California.

Những bông hoa cải dại màu vàng lại nở trên các triền đồi của Thung lũng Santa Clara.

Gió từ phía biển xa thổi về. Nắng nhạt. Trời cao. Mây trắng. Không có gì đặc biệt cả.

Một buổi chiều như hàng ngàn buổi chiều khác trong đời người.

Thế nhưng, không hiểu sao, tôi lại đứng rất lâu bên lề đường, nhìn những bông hoa nhỏ ấy rung rinh trong gió, và chợt thấy mình ngạc nhiên.

Ngạc nhiên vì chúng vẫn nở.
Ngạc nhiên vì mình vẫn còn sống để nhìn thấy chúng.
Và ngạc nhiên hơn nữa, vì sau gần hết một đời người, tôi vẫn còn có thể ngạc nhiên.

Đến khi bước vào tuổi già, người ta mới hiểu rằng được ngồi yên dưới một gốc cây và nhìn một chiếc lá rơi cũng là một hạnh phúc lớn.

Walt Whitman nhìn một ngọn cỏ và thấy cả vũ trụ.
Bùi Giáng nhìn một cành hoa dại và gọi đó là "hội ngộ trùng lai".
Nguyễn Hiến Lê, sau bao năm đọc sách và suy tưởng, cuối cùng lại quay

về với những niềm vui giản dị của đời thường.

Có lẽ những người đi thật xa đều trở về cùng một nơi.

Nơi đó không có học vị.
Không có danh vọng.
Không có hơn thua.
Không có chiến thắng.

Chỉ còn lại sự ngạc nhiên.

Ngạc nhiên rằng mặt trời vẫn mọc mỗi sáng.
Ngạc nhiên rằng một cánh hoa vẫn có thể làm lòng mình rung động.
Ngạc nhiên rằng con người, sau bao nhiêu chiến tranh, hận thù, lưu lạc và mất mát, vẫn còn có thể yêu thương.

Albert Einstein từng nói rằng cảm xúc đẹp nhất mà con người có thể trải nghiệm là cảm giác huyền nhiệm.

Tôi tin ông.

Bởi nếu mất đi cảm giác ấy, con người sẽ trở nên nghèo nàn.

Ta có thể đọc hết sách của nhân loại mà không còn biết ngồi yên nghe tiếng gió. Đó là cái nghèo đáng sợ nhất.

Có lẽ vì vậy mà tuổi già, nếu may mắn, không phải là quãng đường đi xuống. Tuổi già là cơ hội cuối cùng để con người học lại cách ngạc nhiên.

Ngạc nhiên trước bàn tay mình đã đầy vết đồi mồi.
Ngạc nhiên trước mái tóc bạc của người bạn đời.
Ngạc nhiên trước tiếng cười của đứa cháu nhỏ.
Ngạc nhiên trước việc mình vẫn còn được nhìn thấy một mùa xuân nữa.

Đến lúc ấy, ta mới hiểu rằng sống không phải là đi qua thật nhiều năm tháng.

Sống là còn có thể đứng trước một chiếc lá mà thấy lòng mình rung động.

Còn có thể ngước lên một vì sao và nhận ra mình không cô độc.

Còn có thể cúi xuống một cánh hoa và biết rằng mình vẫn thuộc về thế giới này.

Có thể đó là minh triết cuối cùng. Và cũng là sự giàu có cuối cùng của con người. Chính là khả năng kinh ngạc.

Kết luận sau cùng. Có lẽ đó chính là sự giàu có cuối cùng của con người. Khả năng kinh ngạc.

Để kết thúc bài viết này tôi chợt có ý định viết một bài thơ tự do, về chủ đế Còn Biết Ngạc Nhiên.


CÒN BIẾT NGẠC NHIÊN

Đi gần hết một đời người,
tôi mới biết
điều khó nhất
không phải là sống sót,
không phải là thành công,
không phải là chiến thắng,
mà là còn giữ được
đôi mắt đầu tiên.

Ngạc nhiên.

 

Đôi mắt của đứa trẻ
đã từng đứng rất lâu
nhìn một con kiến tha mồi,
một chiếc lá trôi sông,
một đám mây chiều
và tưởng đó là phép lạ.

 

Rồi tôi lớn lên.

Tôi đi qua chiến tranh.
Đi qua những cánh đồng
không còn tiếng chim.
Đi qua những khuôn mặt trẻ
không bao giờ già nữa.
Đi qua những đêm dài
người ta gọi tên nhau
trong khói lửa.

Tôi đi qua tù ngục.
Đi qua những mùa mưa
rơi ngoài hàng kẽm gai.
Đi qua những ngày tháng ngục tù
chỉ còn một khoảng trời nhỏ trên ô cửa
để ngước nhìn bầu trời.

 

Tôi đi qua con đường lưu vong.
Đi qua những thành phố
đầy ánh sáng
mà vẫn nhớ
một làn khói lam chiều
ở quê nhà.

 

Tôi đi qua gần hết đời mình.

Và tưởng rằng
sau từng ấy năm tháng,
tim người
hẳn đã trai sạn thành đá.

Nhưng không.

Một buổi chiều,
trên triền đồi hoa cải vàng
ở miền đất lạ, thung lũng hoa vàng,
tôi đứng lại.

 

Một cánh bướm nhỏ
bay ngang.

Chỉ vậy thôi.

Không tiếng nhạc.
Không triết lý.
Không có sự mặc khải.

Chỉ một cánh bướm
bay qua đời tôi.

Và bỗng nhiên,
tôi hiểu điều mà bao nhiêu sách vở
đã không dạy được.

Rằng thế giới này
chưa bao giờ cũ.

Chỉ có mắt người
đã mỏi mệt.

Rằng một chiếc lá
không phải chỉ là chiếc lá.
Một đám mây
không phải chỉ là đám mây.
Một buổi chiều
không phải chỉ là một buổi chiều.

Mọi vật
đều đang âm thầm
mang theo bí mật của vô cùng.

 

Walt Whitman
đã thấy vũ trụ
trong một ngọn cỏ.

Hermann Hesse
đã gặp minh triết
trong cánh bướm.

 

Còn tôi,
sau chiến tranh,
sau tù ngục,
sau lưu đày,
sau những mất còn
không thể gọi tên,

tôi gặp lại chính mình
trong một khoảnh khắc
ngạc nhiên.

 

Bây giờ,
mỗi sáng thức dậy,
nhìn bàn tay mình
thêm một vết đồi mồi,
tôi không còn buồn nữa.

Tôi ngạc nhiên.

 

Ngạc nhiên vì mình
vẫn còn đây.

Vẫn còn nghe
tiếng chim buổi sớm.

Vẫn còn thấy
một giọt sương
đọng trên lá.

Vẫn còn nhớ
mùi hương của đất
sau cơn mưa.

Vẫn còn có thể
ngước nhìn một vì sao
và biết rằng
mình không cô độc.

 

Có lẽ,
đó là minh triết cuối cùng.

Không phải biết nhiều hơn.
Không phải đứng cao hơn.
Không phải sống lâu hơn.

Mà là,
sau tất cả,
vẫn còn có thể
cúi xuống
trước một chiếc lá.

Ngẩng lên
trước một vì sao.

Và bàng hoàng nhận ra:

Mình đang sống.

Thật sự sống.

 

Triết Luận và Đời Sống

Tế Luân


Tôi thay đổi ý bài thơ này qua thể thơ Lục Bát

cho gần gũi với tâm hồn Việt Nam

CÒN NGẠC NHIÊN

Đi qua mấy độ tang thương,
Mới hay nhân thế vô thường về đâu?
Tóc xanh rồi cũng bạc đầu,
Trăm năm như bóng chim câu cuối trời.

Ta từng lặn giữa cuộc đời,
Mang theo mộng lớn, mang lời hơn thua.
Đi qua khói lửa ngày xưa,
Đi qua tù ngục, nắng mưa lưu đày.

Có khi giữa chốn đọa đày,
Ngẩng lên còn thấy một bầy chim bay.
Có khi ngọn gió heo may,
Nghe hồn giá buốt mà cay mắt già.

Tưởng rằng sau những phong ba,
Lòng người chai cứng như là đá khô.
Nào ngờ cánh bướm ngây ngô
Bay qua hiên vắng, lại xô nhớ về.

Nhớ dòng sông cũ chân quê,
Nhớ chiều quê Mẹ, con đê cuối làng
Khói lam hương bếp mơ màng
Con trâu đứng đợi trên ngàn cỏ non.

Thì ra còn một tâm hồn,
Chưa tan trong cuộc mất còn thế gian.
Thì ra còn chút ngỡ ngàng,
Trước hoa cải nở trên ngàn gió xuân.

Người xưa nói chuyện phù vân,
Ta nghe mà tưởng xa gần đôi câu.
Đến khi tóc trắng bạc đầu,
Mới hay một chiếc lá trầu nên duyên.

Một đêm ngồi ngắm trăng lên,
Bỗng nghe trời đất nối liền với ta.
Ta không là núi, là hoa,
Mà là hơi thở chan hòa thế gian.

Không còn mong chuyện vẻ vang,
Không màng danh lợi tranh giành hơn thua
Chỉ xin mỗi sớm mỗi trưa,
Còn nghe chim hót, còn ưa nắng vàng.

Còn yêu mây trắng bay ngang
Một dòng nước chảy, một hàng cây xanh.
Còn vui khi thấy trên cành,
Một con chim nhỏ đậu quanh cuối chiều.

Nếu mai về với tịch liêu,
Xin mang theo chút thương yêu cõi này.
Mang theo tiếng gió heo may,
Mang theo hương đất những ngày sau mưa.

Mang theo một cánh bướm xưa,
Bay qua đời sống như vừa hôm qua.
Để khi khép mắt đi xa,
Vẫn còn kinh ngạc vì ta đã già

Một người,
Giữa cõi nhân gian.

Louis Tuấn Lê (Tế Luân)

Thành Phố Milpitas California

July 1, 20026


NHẬN XÉT VỀ TÁC PHẨM

"KHI CON NGƯỜI CÒN BIẾT NGẠC NHIÊN

Đây là một bản trường ca triết luận về sự sống 

và khả năng kinh ngạc của con người 

Biên Khảo Louis Tuấn Lê (Tế Luân)

 

Bài viết "Khi Con Người Còn Biết Ngạc Nhiên" của tác giả Louis Tuấn Lê (Tế Luân) là một tác phẩm đặc biệt, nằm ở ranh giới giữa triết luận, tùy bút, hồi ký tinh thần và thi ca. Đây không phải là một bài khảo luận triết học theo nghĩa học thuật, mà là một hành trình chiêm nghiệm của một con người đã đi qua chiến tranh, tù ngục, lưu vong và tuổi già để cuối cùng trở về với câu hỏi giản dị nhất của đời sống: điều gì làm cho con người thực sự còn sống?

Điểm nổi bật đầu tiên của tác phẩm là tác giả đã lựa chọn một đề tài tưởng như nhỏ bé nhưng lại chạm tới nền tảng của mọi nền minh triết: khả năng kinh ngạc. Từ Aristotle, Socrates, Đức Phật, Einstein, Walt Whitman, Hermann Hesse, Goethe đến Heidegger, tất cả được dẫn vào không phải như những trích dẫn uyên bác nhằm phô diễn kiến thức, mà như những người bạn đồng hành trên con đường đi tìm ý nghĩa của sự hiện hữu.

Giá trị lớn nhất của bài viết nằm ở chỗ tác giả không xem sự kinh ngạc như một cảm xúc nhất thời, mà nâng nó lên thành một phạm trù nhân sinh và tâm linh.

Theo tác giả, con người bắt đầu đánh mất chính mình không phải khi nghèo khó, già nua hay thất bại, mà khi không còn khả năng rung động trước cái đẹp, cái bí ẩn và phép màu của đời sống. Đây là một luận điểm vừa sâu sắc vừa mang tính cảnh tỉnh đối với xã hội hiện đại.

Về mặt văn phong, bài viết mang đậm ảnh hưởng của Hermann Hesse, Nguyễn Hiến Lê và phần nào đó của triết gia hiện sinh Martin Heidegger. Câu văn dài, chậm, giàu nhạc tính, nhiều khoảng lặng và mang tính suy niệm hơn là tranh luận. Người đọc không có cảm giác đang đọc một bài nghị luận mà như đang ngồi trước một người đã đi qua gần hết cuộc đời, lặng lẽ kể lại những điều cuối cùng mình nghiệm ra.

Đặc biệt, phần cuối của bài viết tạo nên chiều sâu xúc động hiếm thấy. Sau khi đi qua chiến tranh, tù ngục, lưu đày và những mất mát của kiếp người, tác giả không đi đến sự bi quan hay hư vô, mà đi đến một kết luận đầy nhân bản: sự giàu có cuối cùng của con người không phải là tri thức, quyền lực hay thành tựu, mà là khả năng còn biết kinh ngạc trước một chiếc lá, một cánh hoa, một tiếng chim hay một mùa xuân nữa của đời mình.

Bài thơ tự do "Còn Biết Ngạc Nhiên" là sự tiếp nối tự nhiên của phần triết luận. Nếu phần văn xuôi là hành trình tư duy, thì bài thơ là hành trình cảm xúc. Hình ảnh người lính đi qua chiến tranh, người tù đi qua song sắt, người lưu vong đi qua những thành phố xa lạ để cuối cùng gặp lại chính mình trong một cánh bướm nhỏ, là một hình tượng đẹp và giàu sức ám ảnh.

Phiên bản lục bát "Còn Ngạc Nhiên" lại đưa toàn bộ tư tưởng ấy trở về với tâm hồn Việt Nam. Ở đây, triết học không còn nằm trong khái niệm mà hóa thành ca dao, thành tiếng thở dài của nhân thế, thành sự ngậm ngùi của một người già ngồi nhìn một cánh chim cuối chiều. Bài thơ cho thấy một sự hòa giải đẹp đẽ giữa minh triết Đông phương và trải nghiệm lịch sử của một thế hệ Việt Nam lưu vong.

"Khi Con Người Còn Biết Ngạc Nhiên" không phải là một bài viết về triết học, mà là một bài viết về sự cứu rỗi của tâm hồn. Sau tất cả những biến động của lịch sử và đời người, tác giả đi đến một minh triết giản dị nhưng sâu xa: con người còn biết kinh ngạc thì con người vẫn còn trẻ, còn tự do và còn thuộc về thế giới này.

Đó có lẽ cũng là sự giàu có cuối cùng, và là phẩm giá cuối cùng, của con người.

Một người đi giữa cõi nhân gian

Tế Luân



Translation (English) from ChatGPT


WHEN HUMAN BEINGS CAN STILL FEEL WONDER

Reflections on Philosophy and Life

By Louis Tuấn Lê (Tế Luân)

 

Perhaps the greatest tragedy of human life is not poverty, illness, or old age. The greatest tragedy is that one day, without even realizing it, we lose our ability to feel wonder.

The world itself has never become impoverished. It is only the human eye that gradually grows poorer with the passing years. We grow up, learn, accumulate knowledge, conquer, measure, and explain; and somewhere along that journey, we often lose the ability to pause before the smallest things and whisper to ourselves: "How extraordinary."

When we were children, we could spend hours watching a line of ants carrying food. We gazed at drifting clouds and imagined continents that had never existed. A rainstorm could become a celebration. A single yellow leaf falling into the yard could leave us quietly contemplative for an entire afternoon.

Then we grew up.

We learned how to name things, but gradually forgot how to truly see them. We learned to analyze the structure of a flower, but no longer knew how to be moved by its beauty. We learned the distances between the stars, but forgot the last time we stood silently beneath the night sky.

The ancient philosopher Aristotle once said:

"Philosophy begins in wonder."

Human beings do not ask life's greatest questions because they know too much. They ask them because they suddenly realize how little they know.

Why is there a universe rather than nothing at all?

Why are we here?

Why is a flower beautiful?

Why does beauty bring tears to human eyes?

Every great tradition of human wisdom begins with this sense of wonder.

When Prince Siddhartha Gautama, who would later become the Buddha, left his palace, what awakened him was not a theory or a doctrine. It was the painful astonishment of encountering old age, sickness, death, and the fragile condition of human existence.

When Socrates wandered through the streets of Athens, he was not searching for knowledge itself; he was searching for the profound surprise hidden within his own ignorance.

When Albert Einstein gazed at the star-filled sky, he confessed that the most beautiful experience available to human beings was the experience of mystery—the sense of wonder before that which can never be fully understood.

Perhaps that is why Walt Whitman, when contemplating a single blade of grass, could see within it the history of the stars. Scientifically speaking, a blade of grass is merely a biological structure. Yet to a soul capable of wonder, it is a miracle: sunlight transformed into green, earth transformed into life, and the universe itself transformed into a small and trembling form swaying in the wind.

And this is not merely poetry.

It is almost a religion of presence.

For seeing is the work of the eyes; but truly beholding is the work of the soul.

We may walk through an entire forest without ever truly encountering a single tree. We may live beside the ocean all our lives and never once hear the breathing of the sea.

We may spend decades beside another human being and never truly perceive the fragility and the miracle of their existence.

G.K. Chesterton once observed that the world does not lack miracles; rather, human beings have become so accustomed to them that they no longer recognize them.

Every sunrise is a miracle.

A child who can laugh is a miracle.

A heart that can still love is also a miracle.

Hermann Hesse devoted his entire life to returning to this truth.

He found wisdom not in grand philosophical systems, but in butterflies, patches of moss, drops of dew, evening clouds, the distant sound of the sea, and the silent spaces within the human soul.

For Hesse, wonder was not a fleeting emotion. It was both the beginning of all wisdom and its final destination.

Perhaps this is also what Goethe meant when he wrote his profoundly simple sentence:

"I am here to wonder."

We often assume that maturity means knowing more. Yet perhaps true maturity is the ability to return to our original sense of wonder after having traveled through all the knowledge of a lifetime.

The philosopher Martin Heidegger believed that the greatest mystery is not the extraordinary phenomenon, but the simple fact that the world exists at all.

Từ trang 2 dến trang 4

 

Why is there a leaf?

Why is there light?

Why is there a human being standing here, asking these questions?

If we dwell on such questions long enough, we begin to understand that existence itself is a source of wonder.

And yet, modern humanity seems to be moving farther and farther away from this capacity.

We live in an age in which everything has been assigned a value.

A forest is timber.

A river is a resource.

A human being is productivity.

A day is efficiency.

A lifetime is achievement.

We measure everything—except what makes life worth living.

Every child enters the world carrying eyes capable of wonder. A child can sit for a very long time watching a caterpillar crawl along a wall. A child asks why leaves tremble in the wind. A child listens to rain as though listening to music.

Then the adults pull the child away.

Hurry.

Study.

Take the test.

Succeed.

Be useful.

Compete.

Win.

And gradually, the child learns how to become an adult who no longer knows how to be astonished.

Perhaps this is the greatest paradox of modern education.

We teach children how to count, but not how to contemplate.

We teach them how to analyze, but not how to be moved.

We teach them how to conquer the world, but not how to love it.

We teach them countless facts, yet forget to teach them reverence.

Hermann Hesse worried that universities might produce brilliant minds while impoverishing the human soul. A person may know the names of thousands of butterflies and yet never stand in silence before the beauty of a single wing. One may study astronomy for an entire lifetime and no longer know how to lift one's eyes to the heavens with awe.

Knowledge is necessary.

But knowledge alone is not enough.

For what gives depth to human life is not the quantity of what we know, but our capacity to be touched by what we encounter.

Perhaps that is why, in a world filled with noise, wonder becomes a quiet form of resistance.

It resists indifference.

It resists the impulse to possess.

It resists the arrogance that assumes humanity is the center of the universe.

In the moment of wonder, we no longer stand apart from the world.

We become kin to the grasses and trees.

We become companions of the clouds and the wind.

We recognize ourselves as merely one small breath among countless other breaths sharing the same sky.

And strangely enough, it is precisely when we discover how small we are that we become larger.

When we stand before a patch of moss after the rain, before a butterfly resting on a doorstep, before a solitary star on a summer night, or before the weathered hand of our aging mother—if in that moment we truly open our hearts—then perhaps we have been saved.

Saved from spiritual dryness.

Saved from arrogance.

Saved from the loneliness of the self.

And we begin to understand that living is not merely the passage of time.

To live is to still be able to bend down before a leaf.

To look up at a star.

To listen to the wind.

And to be overwhelmed by the realization that the world, after everything we imagine we have understood, remains infinitely mysterious and beautiful.

At a certain age, one begins to understand that the most precious thing in life is not what one has acquired, nor what one has accomplished, but what one is still capable of feeling deeply.

I found myself thinking this one late spring afternoon in Northern California.

The yellow wild mustard flowers had once again bloomed across the hillsides of the Santa Clara Valley.

A breeze drifted in from the distant ocean.

The sunlight was pale.

The sky was high.

The clouds were white.

There was nothing remarkable about it.

It was an afternoon like thousands of other afternoons in a human life.

And yet, for reasons I still cannot explain, I found myself standing for a long time by the roadside, watching those small yellow flowers tremble in the wind, and suddenly I was filled with wonder.

Wonder that they still bloomed.

Wonder that I was still alive to see them.

And perhaps most astonishing of all, wonder that after nearly an entire lifetime, I was still capable of being astonished.

It is only when one enters old age that one begins to understand that sitting quietly beneath a tree and watching a single leaf fall is itself a profound happiness.

Walt Whitman looked at a blade of grass and saw the universe.

The Vietnamese poet Bùi Giáng looked at a wildflower and called it a "reunion beyond all separations."

And Nguyễn Hiến Lê, after a lifetime of reading and reflection, ultimately returned to the simple joys of everyday existence.

Perhaps all those who travel very far eventually return to the same place.

A place where there are no academic titles.

No fame.

No competition.

No victories.

Only wonder remains.

Wonder that the sun still rises each morning.

Wonder that a flower can still move the human heart.

Wonder that after so much war, hatred, exile, and loss, human beings are still capable of love.

Albert Einstein once said that the most beautiful experience available to human beings is the experience of the mysterious.

I believe him.

For if we lose that experience, we become truly impoverished.

We may read every book humanity has ever written and yet no longer know how to sit quietly and listen to the wind. That is the most frightening poverty of all.

Perhaps that is why old age, if one is fortunate, is not a descent.

It is the final opportunity for human beings to learn once again how to be astonished.

To be astonished by the age spots that have appeared on one's own hands.

To be astonished by the silver hair of one's lifelong companion.

To be astonished by the laughter of a grandchild.

To be astonished that one is still here to witness yet another spring.

Only then do we begin to understand that living is not merely a matter of passing through many years.

To live is to stand before a leaf and still feel one's heart stirred.

To look up at a star and realize that one is not alone.

To bend down before a flower and know that one still belongs to this world.

Perhaps this is the final wisdom.

And perhaps it is also humanity's final wealth:

the capacity for wonder.

In the end, perhaps that is indeed the last and greatest treasure we possess—the ability to be astonished.

As I came to the end of this essay, I suddenly felt compelled to write a free verse poem on this same theme:

STILL CAPABLE OF WONDER

After traveling through almost an entire lifetime,

I have come to understand

that the hardest thing

is not survival,

not success,

not victory,

but preserving

the eyes

with which we first entered the world:

eyes capable of wonder.

The eyes of a child

who once stood for a long time

watching an ant carry its burden,

watching a leaf drift down a river.

. . . watching an evening cloud

and believing it to be a miracle.

Then I grew up.

I passed through war.

I passed through fields

where birds no longer sang.

I passed by young faces

that would never grow old.

I passed through long nights

when people called one another's names

through smoke and fire.

I passed through prison.

I passed through rainy seasons

falling beyond the barbed wire.

I passed through years of captivity

when only a small rectangle of sky

framed by a window

remained for me

to lift my eyes toward heaven.

I traveled the road of exile.

I passed through cities

filled with light,

yet continued to long

for the blue-gray smoke

rising at dusk

in my homeland.

I have traveled through nearly all of my life.

And I believed

that after so many years,

the human heart

must surely have hardened into stone.

But it had not.

One afternoon,

on a hillside covered with yellow mustard flowers

in a distant land,

in the Valley of Golden Flowers,

I stopped.

A small butterfly

passed before me.

That was all.

No music.

No philosophy.

No revelation.

Only a butterfly

passing through my life.

And suddenly,

I understood something

that all the books I had ever read

had failed to teach me.

That this world

has never grown old.

Only human eyes

have grown weary.

That a leaf

is never merely a leaf.

A cloud

is never merely a cloud.

An afternoon

is never merely an afternoon.

Everything in existence

quietly carries within itself

the secret of the infinite.

Walt Whitman

saw the universe

within a blade of grass.

 

Hermann Hesse

found wisdom

in the wings of a butterfly.

And I,

after war,

after imprisonment,

after exile,

after losses

too profound to name,

found myself again

in a single moment

of wonder.

Now,

each morning when I awaken,

and notice

another age spot

upon my hand,

I no longer feel sadness.

I feel astonishment.

Astonishment

that I am still here.

Still able to hear

the birdsong of the morning.

Still able to see

a drop of dew

resting on a leaf.

Still able to remember

the fragrance of the earth

after rain.

Still able

to lift my eyes toward a star

and know

that I am not alone.

Perhaps

this is the final wisdom.

Not to know more.

Not to stand higher.

Not to live longer.

But rather,

after everything,

to still be able

to bend down

before a leaf.

To look up

toward a star.

And to be overwhelmed

by the realization:

I am alive.

Truly alive.

Reflections on Philosophy and Life

Louis Tuấn Lê (Tế Luân)

 

I later rewrote this poem in the traditional Vietnamese Lục Bát form,
bringing it closer to the spirit and sensibility of the Vietnamese soul.

 

STILL ASTONISHED

After passing through so many seasons of sorrow,

I have come to ask:

where does this impermanent human journey truly lead?

Black hair, in time, turns white.

A hundred years pass

like the fleeting shadow of a bird

crossing the evening sky.

I once plunged deeply into life,

carrying great dreams

and the burdens of ambition and rivalry.

I passed through the fires of war.

I passed through prisons,

through years of exile

under sun and rain.

And sometimes,

even in the depths of suffering,

I would look up

and still see a flock of birds

crossing the sky.

Sometimes,

in the chill of an autumn wind,

I felt the cold of the world

pierce the heart

and bring tears to old eyes.

I thought that after so many storms,

the human heart

must surely harden

into dry stone.

And yet,

a simple butterfly,

passing through a silent porch,

could suddenly awaken

a flood of memories.

Memories of the old river

of my childhood village.

Memories of my mother's homeland,

of the earthen dike

at the edge of the village.

The blue-gray smoke

rising from kitchen fires at dusk.

A water buffalo waiting quietly

among the tender grasses.

And then I understood:

there was still a soul within me

that had not dissolved

in all the losses and struggles of this world.

There remained,

somewhere,

a capacity for wonder.

Wonder

before the mustard flowers

blooming across the hills

in the spring wind.

The ancients spoke

of the fleeting nature of life.

I heard their words,

yet understood them

only dimly.

Not until my hair

had turned completely white

did I realize

that even a single betel leaf

could carry the mystery of human affection.

One night,

sitting alone

and watching the moon rise,

I suddenly felt

that heaven and earth

were joined to me.

I am not a mountain.

I am not a flower.

I am merely a breath,

sharing in the great breathing

of the world.

I no longer seek glory.

I no longer care

for fame,

for gain,

for victory over others.

I ask only this:

that each morning

and each afternoon,

I may still hear

the singing of birds,

still delight

in golden sunlight.

Still love

the white clouds passing overhead,

a flowing stream,

a line of green trees.

Still feel joy

at the sight of a small bird

resting on a branch

at the end of the day.

And if tomorrow

I must return

to the great silence,

let me carry with me

some small measure

of love for this world.

Let me carry

the autumn wind.

Let me carry

the fragrance of earth

after rain.

Let me carry

that butterfly from long ago,

still flying

through my life

as though it had passed only yesterday.

So that when I finally close my eyes

and depart,

I may still be astonished

that I have grown old—

a single human being,

for a brief moment,

within this vast world.

 

Louis Tuấn Lê (Tế Luân)

Milpitas, California

July 1, 2026

 



COMMENTS ON THE WORK

WHEN HUMAN BEINGS CAN STILL FEEL WONDER

A Philosophical Meditation on Life and the Human Capacity for Wonder

By Louis Tuấn Lê

 

When Human Beings Can Still Feel Wonder by Louis Tuấn Lê (Tế Luân) is a remarkable work that exists at the intersection of philosophical reflection, personal essay, spiritual memoir, and poetry. It is not a philosophical treatise in the academic sense. Rather, it is a journey of contemplation undertaken by a man who has traveled through war, imprisonment, exile, and old age, only to return at last to the simplest and perhaps most profound question of human existence:

What is it that truly makes a human being alive?

The first and most striking achievement of this work lies in its choice of a subject that appears modest but ultimately touches the foundation of all wisdom traditions: the human capacity for wonder.

From Aristotle, Socrates, the Buddha, Albert Einstein, Walt Whitman, Hermann Hesse, Goethe, and Martin Heidegger, the author draws not upon authorities to display erudition, but upon companions in a lifelong search for the meaning of existence itself.

The greatest strength of this work lies in the fact that the author does not treat wonder as a fleeting emotion. Instead, he elevates it to the level of a human and spiritual category of experience.

According to the author, human beings do not begin to lose themselves through poverty, old age, or failure. They begin to lose themselves when they lose the capacity to be moved by beauty, mystery, and the miraculous nature of existence. This insight is both profound and deeply relevant to the modern world.

Stylistically, the essay bears the unmistakable influence of Hermann Hesse, Nguyễn Hiến Lê, and, to some extent, the existential philosophy of Martin Heidegger. Its sentences are long, contemplative, and musical, filled with pauses and reflections rather than arguments and conclusions. The reader never feels that he is reading an academic essay. Instead, one has the impression of sitting quietly beside a person who has traveled through nearly an entire lifetime and is gently sharing the final truths he has discovered.

The concluding sections of the work possess a rare emotional depth. After passing through war, imprisonment, exile, and the innumerable losses of human existence, the author arrives not at pessimism or nihilism, but at a profoundly humanistic conclusion:

The ultimate wealth of human beings is neither knowledge, power, nor achievement, but the ability to remain astonished by a leaf, a flower, the song of a bird, or the arrival of yet another spring.

The free-verse poem Still Capable of Wonder emerges naturally from the philosophical reflections that precede it. If the prose is a journey of thought, then the poem becomes a journey of feeling. The image of a soldier passing through war, a prisoner surviving behind barbed wire, and an exile wandering through distant cities only to rediscover himself in the flight of a small butterfly is both beautiful and haunting.

The later lục bát version, Still Astonished, brings the entire philosophical vision back into the emotional landscape of the Vietnamese soul. Here, philosophy no longer exists as abstract concepts. It becomes folk wisdom, a sigh breathed through human history, the quiet melancholy of an old man watching a bird settle on a branch at dusk.

The poem represents a remarkable reconciliation between Eastern wisdom traditions and the historical experience of the Vietnamese exile generation.

Ultimately, When Human Beings Can Still Feel Wonder is not a work about philosophy.

It is a work about the salvation of the human spirit.

After all the upheavals of history and the long journey of a human life, the author arrives at a simple yet profound wisdom:

As long as human beings remain capable of wonder, they remain young, they remain free, and they still belong to this world.

And perhaps that, in the end, is both the final wealth and the final dignity of being human.

 

Louis Tuấn Lê

Translation (English) from ChatGPT

250 Năm Nhìn Lại Một Ngọn Đuốc Tự Do Hoa Kỳ - July 4, 2026

  250 NĂM NHÌN LẠI MỘT NGỌN ĐUỐC TỰ DO Ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ. Đêm nay, bầu trời nước Mỹ sẽ lại bừng sáng.  Hàng triệu pháo hoa sẽ nở rộ t...