Nơi chia sẻ cuộc sống và văn Học Nghệ Thuật, của những tâm hồn thi nhân lãng mạn. Nếu không có thi nhân, không có tâm hồn nghệ sĩ, con người sẽ nhàm chán vì sự đơn điệu của cuộc sống. Bởi vì đời sống chỉ là cõi tạm một ngày nào đó hình bóng của ta sẽ tan biến.
Chân dung ta bóng hư vô
Dòng sông tình tự nhấp nhô bóng mình.
“Mỗi tình khúc của Tế Luân đều được chính tác giả nâng niu, chăm chút như một tác phẩm để đời. Từ việc sử dụng kỹ thuật dựng video tinh tế đến lựa chọn âm thanh chất lượng cao, tất cả đều nhằm nâng tầm giá trị nghệ thuật như một cách trân trọng sâu sắc dành cho người thưởng thức.”
Lời Tựa
“Buồn Nào Chạm Nhẹ” không chỉ là câu chuyện của riêng tôi, mà còn ẩn chứa một miền ký ức chung của nhiều người, được gìn giữ bằng cảm xúc, nơi nỗi buồn không cất thành lời mà vẫn ngân dài như một dư âm không dứt. Trong thế giới ấy, giọt sương đêm, ánh trăng, cánh hoa rơi… tất cả trở thành những chứng nhân lặng lẽ cho một tình yêu đã đi qua, để lại những vết chạm rất khẽ mà sâu lắng đến tận cùng.
Tế Luân viết như thể đang lần theo dấu chân của chính mình trong miền hoài niệm. Mỗi câu thơ là một nhịp thở chậm, mỗi hình ảnh là một mảnh vỡ của yêu thương còn sót lại. Nỗi buồn trong thơ không bi lụy, mà mỏng như khói sương — chỉ cần một thoáng chạm cũng đủ làm lay động trái tim người đọc.
Từ chất liệu thi ca ấy, bài thơ đã được chuyển hóa thành tình khúc cùng tên, mang giai điệu Slow Ballad Rumba dìu dặt. Tiếng piano rơi từng nốt như giọt ký ức, violin kéo dài những sợi buồn mong manh, guitar đệm nhịp trầm lắng, và tiếng sáo thoảng qua như một lời gọi xa xăm. Tất cả nâng đỡ cho giọng nam trầm ấm cất lên — như một tiếng lòng không ồn ào, nhưng day dứt đến nghẹn ngào.
“Buồn Nào Chạm Nhẹ” vì thế không chỉ để đọc, để nghe, mà còn để cảm nhận. Cảm một nỗi buồn rất khẽ, nhưng ở lại rất lâu; như một dấu lặng trong đời, tưởng chừng đã trôi qua… mà vẫn âm thầm ngân mãi trong tim người.
Và hơn hết, đây không phải là một tình khúc dành riêng cho riêng tôi, mà là lời gửi gắm đến tất cả những ai đã từng chạm vào những rung động sâu kín của tình yêu — để rồi một ngày, nhận ra: có những nỗi buồn, chỉ cần chạm nhẹ thôi… cũng đủ đi theo ta suốt một đời.
Buồn Nào Chạm Nhẹ
Nỗi buồn sương trắng bay về Hạt sương đêm đọng bên lề trang thơ Trăng còn đẫm nguyệt trong mơ Hoa rơi thềm lạnh… hững hờ sương bay.
Em về hoa lá chao nghiêng Gió xô ký ức nghiêng miền nhớ thương Bước qua một thoáng vô thường Mà sao còn vướng… đoạn đường đã xa.
Buồn nào chạm nhẹ trên tay Mà nghe tim vỡ những ngày có nhau Buồn nào còn đọng về sau Mà ta lạc mất giữa màu hư không.
Buồn nào theo bước em đi Để anh đứng lại… còn gì trong tim Một lần thôi, gọi tên em Mà sao nghẹn đến… không thành lời yêu.
Nụ cười hồng má đôi mươi Áo bay theo gió… một thời đã qua Nụ tầm xuân vướng chân xa Cho bao thương nhớ… như là khói sương
Lệ rơi ướt mối tình nghèo Bước đi mà vẫn mang theo bóng người Tìm trong ký ức chơi vơi Một dấu chân cũ… còn rơi chốn nào?
Buồn nào chạm nhẹ trên tay Mà nghe tim vỡ những ngày rất sâu Buồn nào còn mãi về sau Mà ta lạc mất nhau… trong một kiếp đau.
Buồn nào chạm bóng tà dương Xa xăm mấy nẻo… một phương diệu vời Một thời trôi nổi bên trời Đóa vô thường nở… trong người suy tư.
Tháng Tư, miền Nam dường như vẫn chưa kịp đi hết cuộc đời mình, thì bỗng dưng đã phải chia tay.
Tháng Tư của một dân tộc kiệt sức. Khi người lính buông súng. Khi những dòng sông như cạn kiệt, bầu trời thăm thẳm không gợn mây. Khi một xác người nằm vắt ngang con đường, mọi cái nhìn thản nhiên bước qua, lẽ ra, từ những dấu hiệu ấy, chúng ta đã phải hiểu: mọi chuyện đang đi đến hồi kết.
Chúng ta bước vào chiến tranh để tìm kiếm hòa bình. Nhưng hòa bình, đôi khi, lại đến bằng một kết thúc không ai mong muốn.
Năm ấy, tháng Tư 1975.
Tôi là một người lính trẻ. Cuộc đời phía trước mở ra với bao hy vọng, xanh thẳm như mặt biển. Tôi chưa kịp hiểu hết thế nào là phân chia
Bắc – Nam.
Chỉ biết lá bàng còn non, phượng đã bắt đầu nở đỏ, những thiếu nữ trong tà áo trắng tung bay trước cổng trường, và những bông hoa phượng đỏ rụng xuống báo hiệu một mùa thay đổi.
Rồi tháng Tư vỡ òa. Sài Gòn đổi khác trong một buổi trưa không kịp gọi tên. Những biến động sau đó cuốn theo số phận của biết bao con người. Nhiều người lính, nhiều gia đình, bước vào một hành trình khác, lặng lẽ, khắc nghiệt, và không hẹn ngày trở lại.
Tôi lần giở lịch sử, tìm một điểm tựa cho ký ức mình. Và tôi đọc về ngày 9 tháng 4 năm 1865, tại Appomattox Court House. Ngày mà tướng Robert E. Lee chấp nhận đầu hàng tướng Ulysses S. Grant, khép lại American Civil War.
Khi rời khỏi nơi ký kết, Lee đã nói với các sĩ quan của mình, đại ý rằng: “Chiến tranh đã kết thúc. Những người lính hãy trở về nhà và trở thành những công dân tốt.”
Nhìn lại chiến tranh Việt Nam, nơi nghĩa trang Biên Hòa, ngọn lửa của lòng hận thù không hề tằt, nó vẫn cháy âm ỉ. Người cộng sản không bao giờ muốn hòa giải, bởi vì tính kiêu binh cuồng vọng đã ăn sâu vào tâm huyết của những con người cộng sản.
Một lời nói giản dị, của vị tướng Hoa Kỳ đại diện cho bên thắng cuộc. Đã mở ra một con đường: con đường của hòa giải.
Trong những nghĩa trang quân đội tại Hoa Kỳ, người ta khắc những dòng chữ rất lặng:
“They died for their country.” (Họ đã chết vì đất nước của họ.)
“They have done their duty.” (Họ đã hoàn thành nhiệm vụ của mình.)
Và có khi chỉ là: “Here rests in honored glory a soldier known but to God.” (Nơi đây yên nghỉ, trong vinh quang, một người lính – chỉ có Thượng Đế biết tên.)
Không còn bên thắng, bên thua. Chỉ còn lại con người, và số phận.
Tháng Tư, tôi bước vào những năm tháng tù đày. Nghe tiếng chim cuốc kêu trong bụi, mà thấy lòng mình quặn thắt. Những mùa lá thay màu trôi qua lặng lẽ. Lá non chạm vai như bàn tay thăm dò của số phận. Cái chết có thể đến bất cứ lúc nào. Nhưng điều còn lại, là sự chịu đựng, và một thứ can đảm không gọi thành tên.
Rồi thời gian trôi qua rất nhanh. Sau những mùa đông dài nơi xứ người, sự sống lại hồi sinh. Chiến tranh lùi xa, nhưng ký ức thì không. Những mất mát không dễ gọi tên, những đổ vỡ không dễ hàn gắn.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày Sài Gòn đổi tên, con người tưởng đã học được cách tha thứ. Nhưng lịch sử, dường như vẫn chưa chịu khép lại.
Người thắng cuộc, kẻ thua cuộc, cuối cùng rồi cũng đi về cùng một nơi: sự lặng im của đất.
Tháng Tư vì thế không chỉ là một tháng trong năm. Nó là ký ức. Là vết cắt. Là một cái tên được gọi lên, không phải để nuôi hận thù, mà để nhớ rằng tự do, hòa bình, chưa bao giờ là điều tự nhiên có sẵn.
Chiều Tháng Tư Trên Sông Sài Gòn
Chiều trên sông Sài Gòn gió thổi ngang trời Tiếng sóng vỗ nghe như lời chưa kịp nói Anh đứng lặng giữa hai bờ ký ức Một bờ em… một bờ chiến tranh.
Ngày đó Cư xá còn đẹp như giấc mơ chúng mình còn hẹn nhau đầu ngõ chỉ một buổi chiều thôi mà tưởng như đời chưa hề rạn vỡ.
Giờ này gió vẫn thổi nhưng không còn ai đứng đợi bóng tối phủ xuống che mất nửa đời người.
Cây tre vẫn nghiêng mình trong gió như chuyện xưa chưa chịu rời đi còn giọng em đã tan vào khoảng lặng chỉ còn vang trong một chiều không có lối quay về.
CA KHÚC SỐNG ĐỘNG: DẬY MÀ ĐI GÌN GIỮ GIANG SAN – THƠ NGUYỄN PHƯƠNG THÚY – NHẠC TRUNG VIỆT
==
NGẮC NGOẢI ĐẾN BAO GIỜ
Nguyễn Phương Thúy
Ông Tô Lâm – Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Ông cũng là Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, và Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Còn chức nào ông chưa tóm? Đúng là độc tôn, độc trị!) đến China từ ngày 14 đến 17 tháng 4 năm 2026. Đây là một bước đi ngoại giao đầy quan trọng – cấp nhà nước, trên cương vị là lãnh đạo cao nhất của Việt Nam. Chuyến thăm này không chỉ dừng lại ở những cái bắt tay xã giao; đó là một nỗ lực thúc đẩy thực hành nhanh chóng Chiến lược “3+3” (*), nhằm củng cố “Cộng đồng chia sẻ tương lai” – một cách nói hoa mỹ để diễn tả việc họ đang gắn kết nền kinh tế và an ninh của nhau chặt chẽ hơn bao giờ hết. Tô Lâm trông có vẻ sung sướng, hãnh diện với sự đón tiếp long trọng của China. Các ông lớn mặc âu phục, các bà lớn cũng mặc quốc phục hiện diện sát bên. Nội các China dàn hàng chào danh dự. Tô Lâm bắt tay muốn rụng tay! Càng ngày hình thức ngoại giao càng giống các nước tự do. Con tắc kè thay màu quá lẹ nhưng cái cốt lõi thì vẫn ẹ như xưa! Việt Nam và China đã ký kết hơn 32 thỏa thuận vào ngày 15 tháng 4 năm 2026, tập trung vào các lĩnh vực:Hải quan & thương mại: Đây là một bước tiến vô cùng to lớn, bởi thương mại giữa hai quốc gia đã hơn 250 tỷ USD trong năm 2025. Hai bên cũng đang triển khai mô hình “cửa khẩu thông minh” nhằm đẩy nhanh tốc độ vận chuyển hàng hóa. Cơ sở hạ tầng & đường rầy sắt: Trọng tâm phát triển đô thị và kết nối các tỉnh phía Bắc của Việt Nam với mạng lưới đường sắt cao tốc của China chính là một “con đường một chiều”. Một khi những đường rầy ấy đã được lắp đặt theo tiêu chuẩn của China, Việt Nam sẽ bị ràng buộc chặt chẽ về mặt vật lý với China trong suốt 50 năm. Trong nhiều thập kỷ, Việt Nam vẫn duy trì khổ đường rầy sắt khác biệt, nhằm ngăn chặn nguy cơ bị xâm lược dễ dàng. Bằng việc chuyển sang áp dụng các tiêu chuẩn của China, Việt Nam đang thực sự hội nhập về mặt vật lý vào hệ thống hậu cần (logistics) của China. Đây chính là sự thống trị mà không cần chiến tranh. Nếu China nắm quyền kiểm soát hệ thống đường rầy, công nghệ tín hiệu cũng như nguồn tài chính, họ sẽ nắm giữ chiếc “công tắc bật/tắt” đối với nền kinh tế xuất khẩu của Việt Nam. An ninh chuỗi cung ứng: Nhằm bảo đảm các chuỗi cung ứng xuyên biên giới sẽ không bị gián đoạn bởi những biến động chính trị trên phạm vi toàn cầu. Du lịch: Phát động chương trình “Năm Hợp tác Du lịch Việt Nam – China 2026-2027” với mục đích thu hút khách du lịch trở lại mức trước đại dịch. Những thỏa thuận này có ảnh hưởng to lớn không thể tránh khỏi như “Con ngựa thành Troy” trong lĩnh vực 5G (the fifth-generation technology standard for broadband cellular networks), dữ liệu lớn (big data) và trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence (AI)). Cơ sở hạ tầng kỹ thuật số luôn có những “cửa hậu” (backdoors). China sẽ nắm trong tay “chìa khóa” của chủ quyền kỹ thuật số, có khả năng giám sát sự di chuyển của con người, hàng hóa và thậm chí cả quân đội….
== VIỆT NAM: A Nation Reborn – Created by Nguyễn Phương Thúy – Nhạc nền hòa tấu: “VIỆT NAM VIỆT NAM” Của Phạm Duy
TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ: Ca Khúc MẢNH DA VÀNG, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ của nhà thơ CHU LYNH do ca sĩ Kỳ Nam trình bày và hòa âm được thực hiện tại Golden Production.
Tùy Bút 30/4 CỦA 51 NĂM SAU
Sỏi Ngọc
Tàu Trường Xuân, thuyền trưởng: ông Phạm Ngọc Lũy
Từ trái sang phải: Đạo diễn: Robbie Hart; Bà Nguyễn Bùi thị Mùi; tác giả Sỏi Ngọc; cố vấn Phim: anh Khoa Phạm
Lại một tháng Tư đen Quê người ta tạm trú Bao giờ về cố thổ Như máu chảy về tim?
Cuộc chiến đã qua lâu Lòng ta còn hậu chấn Hỡi ơi ! Trời biển rộng
Dằng dặc một cơn sầu. (Hoàng Song Liêm)
Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại không ngớt rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời.
Tưởng niệm tháng Tư, phim Shining light, một phim tài liệu “ánh sáng tỏa rạng” được trình chiếu tại một trường tư thục, trung học Marianopolis college cho tất cả mọi người, kể cả những em học sinh, tham dự để hiểu về cội nguồn của những người Việt tỵ nạn tại Canada nói riêng và thế giới nói chung.
Phim tài liệu này chỉ dài 30 phút, do nhà sản xuất phim: Peter Raymont, đạo diễn: Robbie Hart, nhân viên Cao Ủy Liên Hiệp Quốc tại Canada: Tracey Maulfair, đồng sản xuất phim và cựu Đại xứ Canada: Gary Smith, cố vấn phim: Khoa Phạm.
Đã được trình chiếu nhiều lần tại Vancouver, Toronto, Montreal, hôm nay được chiếu lại nhưng đặc biệt có sự góp mặt của nhân vật chính, bà Bùi Nguyễn thị Mùi, bà là người mẹ đã mang bầu được 9 tháng vào ngày 30/4/75, biết rằng tánh mạng rất mong manh nếu bà lên tàu Trường Xuân bỏ xứ lánh nạn Cộng Sản thời bấy giờ, nhưng nỗi sợ hãi bị trả thù, cuộc sống đọa đầy sau ngày mà bọn chiến thắng luôn rêu rao là “nền độc lập tự do dân chủ”, trong khi chúng bắt bớ những cựu sĩ quan, lính VNCH bỏ tù, nằm gai nếm mật, trong đó có chồng bà… Bà đã hy sinh mạng sống của chính mình và đứa con trong bụng, ôm bụng bầu sát ngày sanh nở, cùng với con trai nhỏ 2 tuổi, lên chiếc tàu định mệnh cuối cùng vào trưa ngày 30/4 để trốn chạy; đến ngày 2 tháng 5 năm 1975 bụng quặn thắt, và đứa con gái đã chào đời trên tàu Trường Xuân, giữa lòng đại dương mênh mông, với 3600 người tỵ nạn vây quanh, đứa bé gái được đặt tên là Chiêu Anh, ánh sáng rạng rỡ, hy vọng mở ra cho bà một tương lai mới!
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi mới sanh cháu Chiêu Anh trên tàu Trường Xuân
Chiêu Anh- cô gái được sanh trên biển cả của ngày hôm nay
Bà Bùi Nguyễn thị Mùi, đạo diễn: Robbie Hart tại trường Marianopolis college
Sau đó, ngày 4/5/1975 tàu Trường Xuân được tàu chở hàng Maersk line của Hong Kong vớt, mẹ con cô được chở vào nhà thương.
Mọi người yên lặng theo dõi bộ phim thật cảm động, tại ngôi trường mà Chiêu Anh đã từng theo học và tốt nghiệp; thỉnh thoảng có tiếng thở dài não ruột, tiếng sụt sùi trong hàng ghế của những người lớn tuổi, cũng có những cái nắm tay thầm lặng chia sẻ nỗi buồn, sự cảm thông của thế hệ trẻ đối với tiền bối.
Phim chấm dứt, ánh đèn sáng lên, bà Bùi ngồi lặng yên trên chiếc ghế ở khán đài, cùng với đạo diễn Robbie Hart, sẵn sàng trả lời những thắc mắc của tất cả mọi người, có cậu bé nói:
– “Tại sao chiến tranh VN đã trải qua 51 năm, đã thống nhất độc lập rồi, mà vẫn còn có người bỏ nước ra đi, còn nghe nói đến sự trốn chạy tìm tự do, tìm nguồn sống mới; họ không chịu nổi áp lực của nhà cầm quyền Cộng Sản?”
Một người khác góp ý:
– “Vào lúc 30 tháng Tư, bọn cộng sản đối với chúng tôi là một điều rất mới mẻ, nhưng kinh nghiệm của thời cải cách ruộng đất thời 1953-1956, chúng đã giết, treo cổ thẳng tay những người họ gọi là “địa chủ”, “tư sản”, tưởng tượng họ cũng đối xử, trả thù những người dân quân miền Nam đã sống, làm việc dưới chính quyền mà họ cho là Mỹ ngụy thì làm sao chịu nổi, vì lý do đó mà nhiều người thà bỏ mạng ngoài đại dương hơn là sống dưới gông cùm của chế độ Cộng Sản.”
Đạo diễn Robbie nói:
– “Chúng tôi dự định sẽ về thăm Việt Nam một chuyến, có dịp sẽ quay những thước phim về những biến cố lịch sử đã xảy ra tại đó cách đây 51 năm, và sự khác biệt với đời sống hôm nay.”
Một khán giả trong phòng thêm ý kiến:
– “Chúng tôi rất mong được các ông làm phim về những người lính VNCH, những người cựu chiến binh, những thương phế binh của chế độ trước bây giờ họ sống ra sao? Con cái họ thế nào? Có được sống như những người dân bình thường hay họ vẫn mãi mãi bị mang lý lịch xấu không thể ngóc đầu lên được, tâm lý sau cuộc chiến bị thất bại, họ mất tất cả, chỉ còn hai bàn tay trắng, lại thêm tù tội cả chục năm, cuộc đời của chính bản thân và con cái có được thành công ở chính quê hương nơi họ sanh ra không? Cộng Sản, những kẻ chiến thắng sau cái mốc định mệnh 30/4 có thật sự như họ đã nói “theo chính sách khoan hồng” giúp đỡ cho kẻ “lầm đường lạc lối” đi đúng hướng, sao chỉ thấy toàn những hình ảnh đói khát ở vùng kinh tế mới với những căn nhà mái lợp bằng lá, mùa mưa thì dột, mùa nắng thì thiêu đốt… Sự trừng phạt hăng máu của kẻ chiến thắng đến bao giờ mới ngừng tay?!”
Hình ảnh của con gái Chiêu Anh cùng với mẹ đi dạo trong một công viên ở Montreal, thanh bình và nhàn nhã, có ai biết quá khứ của họ trắc trở đầy thử thách!
Chiêu Anh chính là Shining Light của bà Mùi, cô là ngọn đèn tỏa sáng trong màn đêm tăm tối, là niềm hy vọng cho cả gia đình sống và phấn đấu, bà Nguyễn Bùi thị Mùi là một dược sĩ có tiếng tại Montreal, Quebec, giúp đỡ cho rất nhiều đồng hương trong thời gian covid.
Bà luôn dậy con gái “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, cô tìm lại được thuyền trưởng của tàu Trường Xuân năm xưa là ông Phạm Ngọc Lũy, đã đến mừng sinh nhật thượng thọ thứ 95 của ông,
Cô gái Trường Xuân năm nào, tưởng đã không thể nào sống nổi, nay thành công rực rỡ trong ngành thiết kế thời trang, cô ra trường ngành thiết kế thời trang ở NewYork, được nhiều giải thưởng danh giá.
Xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến đạo diễn Robbie Hart, đến anh cố vấn Khoa Phạm đã tìm lại nhân chứng sống bà Nguyễn Bùi thị Mùi của tàu Trường Xuân sau 51 năm để cùng ngồi lại nơi đây, ôn lại câu chuyện lịch sử, không thể nào quên; câu chuyện của bà là một trong hàng ngàn những câu chuyện hy hữu của những người vượt biển sống sót, may mắn đến bến bờ tự do, sống, làm việc và thành công, như một tấm gương sáng cho thế hệ tương lai.
Chúng tôi ra về với dư âm của chiếc tàu Trường Xuân còn vương vấn, dáng bé nhỏ mảnh khảnh của bà Nguyễn Bùi thị Mùi, với nụ cười ấm áp, ánh mắt chứa chan niềm thân thiện, bà đã sống và cống hiến hơn nửa cuộc đời từ cái mốc 30/4 đến nay cho ngành thuốc, giúp tư vấn cho người bệnh, chích, bán và nhiều khi biếu thuốc cho những hoàn cảnh khó khăn, bà đúng với câu « lương y như từ mẫu », bà tâm sự riêng với tôi :
– “Mình thật may mắn đã được Canada giang tay đón nhận, thì mình phải sống sao cho xứng đáng, trả ơn cho đất nước đã cưu mang và góp phần xây dựng cho tương lai của thế hệ trẻ sau này.”
Tại ai mà mỗi tháng tư, tâm tư của hơn 1,5 triệu người sống xa quê hương có cùng một tâm trạng:
Tháng Tư về, gió chạm hư vô Ký ức cũ rơi rụng không bờ Người ở lại quen dần im lặng Kẻ ra đi mang nặng giấc mơ Một dòng sông chia hai bờ nhớ Nửa quê hương trôi dạt phương nào Hơn nửa thế kỷ rồi vẫn hỏi Mất gì đây… mà đau đến nao lòng.
Sỏi Ngọc Montreal 4/4/2026
THÁNG TÁM, THÁNG TƯ
Vốn rằng ghi rõ tự Thiên Thư Cộng sản gian tà từ…”dịch Thu.” “Cải Cách” lừa bần nông, đấu tố, “Nhân Văn” phỉnh kẻ sĩ, giam tù.
Rồi đây, nổi giận, dân băm nát Sắp tới, phân minh, Trời nghiến nhừ Hậu quả khôn lường đang dần đến Chúng bây sẽ trả nợ…công, tư.
Bảo Trâm Chú thích: “Dich Thu”: Cách mạng tháng tám” năm 1945 của lũ cướp cộng sản.
“Cải Cách”: Cải cách ruộng đất” của Công sản Bắc Việt, từ 1953 đến 1956 , giết hàng chục ngàn nông dân ở miền Bắc.
“Nhăn Văn”: Cộng sản bày ra vụ “Nhân Văn Giai Phẩm” từ 1955-1959, để giết và giam tù, bó đói hằng trăm Văn Nghệ sĩ ở Miền Bắc.
Tháng tư giữ dạ sắt son Đêm dài dỗ giấc trăng tròn xót xa Vì đâu mãi nhớ thương nhà? Người ơi gắng đợi cùng ta trở về!
Tháng tư nghĩa xóm tình quê Chân thành đối đãi vẹn bề giúp nhau Chiều qua gặp gỡ vui chào Cười tươi hớn hở xôn xao chuyện trò
Tháng tư ấp ủ buồn lo Yêu bầy trẻ dại nằm co dọc đường Màn trời chiếu đất cảm thương Bao người khốn khổ muôn phương vội vàng
Tháng tư mộng ước hoài mang Trời Nam, biển Bắc tỏa lan đượm tình Mây chào rạng ánh bình minh Sau này hứa hẹn đăng trình chẳng lơi!
Tháng tư ngỡ tựa đang mời Buồm giăng bến gọi chửa ngơi bao giờ Sum vầy thỏa lắm niềm mơ Nắng hồng giục giã đôi bờ kết giao.
Như Thu 04/18/2026
==
CHÙM THƠ VĂN THÁNG TƯ – DONRY NGUYỄN
CHO NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG VÀ NHỮNG NGƯỜI CÒN LẠI
Tháng tư, từ giã mùa chinh chiến. Ta về, đi giữa bóng hoàng hôn… Tay mẹ gầy còm ôm ta khóc, Cạnh đám em thơ nghẹn tủi hờn.
Bạn ta nhiều đứa không về nữa, Đem máu xương mình hiến núi sông. Để người sương phụ chia dòng lệ Nửa chịu tang cha, nửa khóc chồng.
Rượu không đủ uống ngày thua trận Ta ngước cười khan với đất trời, Trời đã không dung người thất thế, Sá gì thù vặt ngọn đòn roi.
Năm xưa vào lính mình ta tiễn, Nay bước lao tù cũng một thân. Mẹ đã tảo tần nuôi ta lớn, Nay còn đội gạo mà thăm con.
May lúc lên đường chưa cưới vợ, Nên chẳng dùng dằng vướng nợ ai. Nếu không cũng xót thời son trẻ, Vì chồng nhan sắc em tàn phai.
Trong tù ta có thêm bầu bạn, Sáng chiều chia nửa củ khoai lang Ngoài kia hợp tác toàn dân đói, Xã nghĩa thiên đường ráng tiến lên.
Trong tù ta sống lòng thanh thản Gánh rổ khoai mì đi rong chơi. Cuốc đất đau lưng mà trí nhẹ Không thành công, ta cũng thành người.
Nửa đêm tiếng hát từ song sắt, Cao vút ngân lên đụng đỉnh trời. Nhìn gã cai tù đang cúi mặt Ta biết cuối cùng … ai thắng ai!
-Trại tù A30-1977. Donry Nguyễn
**
TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA EM.
“Ta làm chiến binh Sống không bằng chết, Được mất gì mà vỗ ngực xưng tên!”*
Người hỏi tôi là lính hay quan, Hỏi chi thân thế lúc suy tàn. Mang danh phận lính không tròn phận, Há dám xưng hùng nhận chức quan.
Giữ nước sa cơ đành bỏ nước Coi nhà thất thế phải tòng vong. Cho dẫu chỉ là anh lính nhỏ, Lẽ nào trách nhiệm chẳng lo chung.
Ngày nay trên bước đường lưu lạc, Món nợ tang bồng lụy áo cơm. Tha phương chén rượu sầu ngơ ngác, Ai chẳng mộng ngày … quy cố hương.
Em đừng trách móc sao lần lữa, Chưa về thăm lại mẹ già nua. Lòng riêng ngui ngút niềm thương nhớ Nhỏ lệ âm thầm giữa gác khuya.
Ra đi từ bữa hờn sông núi, Lời thề ghi khắc trái tim côi. Mai sẽ trùng tu ngày hội lớn Dựng mái nhà xưa phụng dưỡng người.
Nửa thế kỷ qua ngùi đau xót, Bạc màu áo cũ vẫn chờ mong. Lỡ mai tôi chết không về kịp … Chắc gởi tro tàn xuống biển đông.
Món nợ ân tình chưa báo đáp Đối mặt quê hương nghĩ thẹn lòng.
-Donry Nguyễn- * (Trích bài hành Tự Chuốc Rượu của người lính Lôi Hổ Hoàng Hoa Thương)
*
NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ LẠI PHÍA SAU.
–Tưởng nhớ Tr/u Liễu Tông Trung cùng đồng đội đã nằm lại rừng núi Kon Tum, tháng ba 1975.
• Bạn tôi là HSQ Tiếp liệu ĐĐ1/TĐ95/LĐ22/BĐQ. hậu cứ đóng tại trại B12, đối diện trại B15 của lực lượng Lôi Hổ, nằm ở phía nam cầu Dakbla thị xã Kon-Tum.
Sau đây là những gì anh ấy kể lại:
Ngày 14/3/1975 anh theo xe tiếp tế lương thực cho đại đội đang đóng ở Đồi Ba Chấm, vị trí này là nơi đơn vị anh lui lại sau khi tản hàng phải rời bỏ căn cứ Kon Sơn Lũ cách đó vài cây số vào năm ngoái.
Lần này anh mang theo cả ba lô súng đạn để tham dự hành quân mặc dù nhiệm vụ của hạ sĩ quan tiếp liệu là ở hậu cứ lo việc quân lương. Lý do: lè phè, ham chơi, đến giờ tiếp tế, tiểu đoàn phải cho người ra phố gọi về.
Sau khi nhận lương thực xong, đại đội được lệnh tiến sâu vào rừng, anh cũng mang súng lầm lũi bước theo. Đi được vài chục thước thì bỗng nhiên vị trung úy Trung đội trưởng ngoắc tay bảo anh:
-Thôi về đi, cảnh cáo lần này, nhớ không tái phạm nghe chưa.
Mừng rỡ bạn tôi chỉ kịp đưa tay chào ông rổi vội vã chạy ngược lại để đuổi kịp chiếc GMC đang lăn bánh. Về tới trại B12 buổi chiều thì tối đó, toàn bộ hậu cứ được lệnh tiêu hủy vũ khí nặng và tất cả giấy tờ tài liệu để gọn gàng lên xe di tản. Nghe lệnh anh bàng hoàng xúc động, nghĩ đến những bạn bè chiến hữu giờ này đang tiến sâu vào rừng, không hay biết gì cả khiến anh chết lặng trong lòng. Hồi trưa nếu đại đội trưởng không cho về thì giờ này anh cũng chung số phận với mọi người rồi.
Suốt đường lui binh, không khi nào anh không nghĩ đến những người bạn cùng đơn vị giờ đây đơn độc giữa rừng sâu trong vòng vây của địch. Nỗi buồn và niềm chua xót nghẹn ứ trong trái tim người lính bất lực trước sự phũ phàng tàn nhẫn của chiến tranh.
Đoàn xe di tản của anh đi đầu, giữ được yếu tố bất ngờ nên không bị tấn công như khúc sau, đến bến đò Thạnh Hội xe lội qua sông Ba nhờ dòng nước lúc này chưa dâng cao. Nhưng khi cách Tuy Hòa khoảng 10 cây số, một quả đạn pháo kích nổ sát sườn xe làm người lính tên Tân là phụ tá tiếp liệu cho anh đứt ngang cổ họng, chết liền tại chỗ. Anh chỉ kịp ngoái lại nhìn xác nó loang máu nằm gục bên vệ đường nói lời vĩnh biệt rồi tiếp tục lao đi. Anh về tới nhà an toàn, ở lại Tuy Hòa mấy hôm chờ đợi tin tức đơn vị nhưng không gặp lại ai, cũng không biết đích xác đại đội của anh thế nào. Sau đó cùng gia đình theo đoàn xe xuôi Nam, đến Nha Trang, nghe ngóng tình hình, thấy tin tức chiến sự hoàn toàn bất lợi, cha mẹ anh quyết định trở về và cho phép anh theo đơn vị. Không thể bỏ cha già mẹ yếu với đám em thơ giữa cuộc ly loạn, anh ở lại Nha Trang cùng gia đình chờ yên ổn trở lại Tuy Hòa.
Lúc ra trình diện ủy ban quân quản thành phố, tình cờ gặp lại một đồng đội cũ. Vui mừng hai người kéo nhau ra một góc vắng thăm hỏi. Người bạn cho biết vắn tắt: đại đội đã chiến đấu cho tới viên đạn và bịch gạo sấy cuối cùng. Không nhận được tiếp tế, cũng không thể liên lạc về bộ chỉ huy nên tự giải tán, mạnh ai nấy tìm đường thoát hiểm, thành ra không ai biết ai thế nào. Nghe xong bạn tôi thở dài nuốt nước mắt vào lòng. Tiếc thương đồng đội cũ trong đó có Tr/u Liễu Tông Trung, đại đội trưởng của anh, là một sĩ quan can trường, tốt nghiệp Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, ông đã cống hiến tuổi trẻ và tâm huyết của mình cho đất nước, cuối cùng đã bị bỏ rơi giữa núi rừng Kon-Tum khi gần tàn cuộc chiến.
Từ đó đến nay tôi vẫn thường hỏi thăm nhiều nơi, gặp nhiều chiến binh Biệt Động để ngóng tin tức giùm bạn tôi mà không ai biết. Duy chỉ một lần tình cờ gặp Đ/u Nguyễn Văn Hồng, người cùng khóa Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt với Tr/u Liễu Tông Trung, anh cũng thừa nhận là sau tháng tư 75, được anh em cùng khóa báo cho biết là Liễu Tông Trung mất tích…
Hôm nay nhân mùa Quốc biến, thay mặt bạn mình tôi viết bài thơ tưởng nhớ đến ông và tất cả các chiến sĩ BĐQ đã nằm xuống trên khắp đất nước để bảo vệ Miền Nam Tự Do.
BÀI CA ĐỒI BA CHẤM
Lệnh di tản ban hành trong đêm lạnh, Ta bàng hoàng khi nhận được hung tin. Đại đội ta đóng quân đồi Ba Chấm Mới ban trưa này còn được lệnh hành quân.
Giờ bỗng chốc chẳng khác gì ác mộng, Họ trở thành chốt chặn ngựa qua sông. Ta vơ vội áo quần, ôm cây súng, Giờ ra đi nghe muối xát vào lòng.
Người ở lại âm thầm ngăn bước giặc, Người lên đường lặng lẽ rút nhau đi. Thương đồng đội ta cũng đành bất lực, Bí mật quân cơ đâu thể nói năng gì.
Trời cao nguyên đêm nay buồn ảm đạm, Cơn gió nào thổi vọng đến đồi cao. Nơi bạn ta vẫn tay ghìm họng súng, Giữa rừng khuya cố thủ dưới thông hào.
Thẩm quyền ta, người sĩ quan Võ Bị, Cái ngoắc tay cho ta sống trở về. Nhưng chính ông lại lọt vào tuyệt lộ, Thế trận tàn Hùm dữ cũng sa cơ.
Đường lui binh nhiều lần ta bật khóc, Ôi đâu rồi khí phách một đoàn quân. Đánh trăm trận khiến quân thù tan tác, Giữ non sông từng tấc đất tấc vàng.
Nay chạy trốn để mong cầu sự sống, Lòng ta đau tan nát tựa dao đâm. Giặc pháo theo bạn ta vừa ngã xuống, Máu loang hồng theo vết bánh xe lăn.
Về duyên hải chờ lâu tin không thấy, Lại lên đường tiếp tục tiến về Nam. Gặp đồng đội sụt sùi nghe kể lại: Lính bọn mình đã chiến đấu hiên ngang.
Giây phút cuối không còn quân tiếp viện, Đạn vơi dần, gạo sấy chỉ cầm hơi. Tiếng súng giặc bao trùm lên trận tuyến, Sóng truyền tin không nghe tiếng trả lời.
Tự tan hàng khi thế cùng lực kiệt, Xé đường rừng tìm lối thoát mưu sinh. Người thương tích chờ quân thù bắn giết, Người ngậm ngùi mang thân phận tù binh.
Ta từ giã chiến tranh từ thuở ấy, Mà vết thương còn nhức nhối trong tim. Nửa thế kỷ, ta thấy mình còn nợ, Những anh em ở lại phút sau cùng.
Ai ra lệnh phũ phàng đem con bỏ? Ai chọn đường hoang phế để lui quân? Nửa thế kỷ nỗi buồn đau còn đó, Người vọng phu hóa đá đứng trông chồng…
Ta may mắn xác thân còn nguyên vẹn, Nhưng tâm hồn vĩnh viễn gởi rừng sâu, Nơi bạn ta đã âm thầm ngã xuống, Máu xương đem phân bón cỏ xanh màu.
-Donry Nguyễn- California April 15,2026.
== GÁNH QUÊ, Trần Chương Lương viết nhạc theo thơ Ý NGA, do ca sĩ Hồng Nhiên trình bày:
THƠ NHẠC 30 THÁNG TƯ – CHƯƠNG HÀ & SUNO AI
Tháng Tư Dòng Nước Lũ Của Ký Ức – LÊ TUẤN
Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận. Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người.
Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.
Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại. Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại. Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.
Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn. Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ. Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng.
Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.
Tôi đã không kịp đến. Không một nén hương. Không một lời giã biệt.
Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên. Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động. Nó là tháng của những điều chưa kịp làm. Của những lời chưa kịp nói. Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.
Le Tuan
TẠ LỖI
Hãy tha thứ cho anh Giữa chuyển dời nghiêng ngả Bước chân đi vội vã Lạc mất lối quay về.
Hãy tha thứ cho anh Một lần buông rơi tất cả Không một lời tiễn biệt Cuối Tháng Tư não nề.
Hãy tha thứ cho anh Ngôi mộ buồn lặng lẽ Không khói hương sớm chiều Không một nén phân ưu.
Hãy tha thứ cho anh Những tháng năm xa xứ Mỗi lần nhớ đến em Là một lần ray rứt.
Hãy tha thứ cho anh Nếu tình còn mắc nợ Xin gửi về quê hương Một giọt buồn quốc hận.
Tế Luân
THƠ NHẠC KHÚC CẦU HỒN – TẾ LUÂN
Tháng Tư
Khúc Tưởng Niệm Sài Gòn 30.4.1975 – TẾ LUÂN
Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng. Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó, chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.
Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó, húng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.
Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.
Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.
Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.
Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông,
để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất. Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.
Tháng Tư Bài Thơ Còn Lại
Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.
Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ Những con phố bỗng dưng thành xa lạ Người đi rồi… không hẹn một ngày về.
Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.
Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi Sóng gào thét như linh hồn đất nước Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.
Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.
Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức Để đôi lúc trong đêm dài thao thức Nỗi đau xưa trở lại rất con người.
Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn Hãy ở lại như một lời nhắc nhở Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa Và lòng người còn mãi những chia ly.
Tế Luân
==
THÁNG TƯ TƠI TẢ. CAO MỴ NHÂN (Bài Xướng) – Kính mời quý thi nhân chấp bút họa bài thơ thú vị này của Nữ Sĩ Cao Mỵ Nhân
(Thất ngôn bát cú – Chữ T- Điệp vận hồi đầu)
TÔI thấy tháng Tư thật tả tơi Tả tơi tan tác toé tung tời Tung tời tự thủa tang thương thế Thương thế tới tình tưởng tiếc thời
Thời tiếc tóc tơ tàn tuổi trẻ Trẻ tung tâm tính trổ tra trời Tra* trời tích tụ tàng thiên tuế Thiên tuế tạ từ thê thiếp thôi …
CAO MỴ NHÂN Hawthorne. 18 – 4 – 2026
*Tra là Già
THÁNG TƯ HẬN, THÁNG TƯ ĐAU – YÊN SƠN (Viết cho mình, viết giùm cho người)
Tháng Tư lại về. Không cần ai nhắc, không cần một dấu hiệu rõ ràng nào, chỉ cần những dư âm Tết nơi xứ người bắt đầu phai nhạt, hay một buổi chiều xuân nhạt nắng rơi xuống sân vườn cô tịch là lòng tôi đã chùng xuống. Nhớ về… Có những tháng trôi qua như một con số. Có những tháng đi qua như một thói quen. Nhưng cũng có những tháng không bao giờ rời khỏi đời người. Đó là Tháng Tư. Tháng Tư, đối với tôi, không phải là ngày tháng bình thường của thời gian. Nó là một dấu mốc thời gian in hằn trong tâm khảm, là một nỗi đau, một vết cứa sâu trong tâm hồn, một nơi mà ký ức dừng lại, xoáy xuống, rồi lan ra, phủ kín cả tâm can. Có những nỗi đau không có âm thanh, không có tiếng khóc. Không thường có những lời than vãn. Nó nằm im, rất sâu, rất lâu, như một mảnh kim loại nhỏ găm trong da thịt. Mảnh kim loại không đủ nguy hại có thể chết người, nhưng đủ để nhói lên mỗi khi cử động. Và Tháng Tư chính là lúc mảnh kim loại ấy trở mình. Đêm hai mươi chín tháng Tư năm ấy, tôi vẫn còn là một người lính. Không phải hình ảnh một người lính trong sách vở, với chiến tuyến rõ ràng và mệnh lệnh rành rọt, mà là một con người đứng giữa một thực tại đang rạn vỡ. Ở phía tây Sài Gòn, quanh vòng đai phi trường Tân Sơn Nhứt… chúng tôi còn chiến đấu. Chiến đấu không phải vì hy vọng chiến thắng, mà vì không thể buông. Không thể đầu hàng. Có những thứ, một khi đã thấm vào máu như danh dự, trách nhiệm, lời thề… thì không dễ gì đặt xuống, không thể buông bỏ, ngay cả khi biết rằng tất cả đang trượt khỏi tầm tay. Chiến tranh trong những giờ phút cuối không còn là chiến tranh theo nghĩa quen thuộc. Nó không còn là một ván cờ. Nó trở thành một cơn sóng lớn. Và chúng tôi là những con người đứng trước làn sóng hung bạo ấy, cố giữ thăng bằng trên những mảnh vỡ còn sót lại. Tiếng súng vẫn nổ. Nhưng không còn nhịp điệu của chiến thuật. Nó dồn dập như nhịp tim của một cơ thể kiệt sức. Mỗi phát súng không còn nhắm đến chiến thắng, mà như một cách níu giữ một hy vọng mong manh dù biết hy vọng ấy gần như không còn. Nhưng cũng không thể bắn bừa. Đạn dược đã cạn. Mỗi viên đạn được đếm như giọt máu cuối cùng. Trong khi đó, đối phương được che chở bởi những tầng phòng không dày đặc. Chúng tôi chiến đấu trong thiếu thốn, trong bị động, trong một thế trận mà phần thua đã hiện rõ. Người Mỹ đã quay lưng. Người Mỹ đã bỏ rơi chúng tôi, bỏ rơi cái tiền đồn mà họ đã từng dùng chúng tôi để ngăn cản sự thống trị của triết thuyết Cộng Sản. Nhưng chúng tôi vẫn phải chiến đấu để bảo vệ nền tự do dân chủ cho người dân chúng tôi, cho đất nước chúng tôi. Anh em vẫn thay nhau bay. Bay trong những điều kiện khắc nghiệt, bay như những võ sĩ bị trói tay chân, ném lên võ đài trước một địch thủ hung tàn. Người này hết giờ, người khác lên. Không ai nói nhưng ai cũng hiểu… chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh vô vọng. Còn nỗi bi thương nào hơn thế không? Tôi còn nhớ những ánh mắt đêm ấy. Không ai nói với ai một lời gì ngoài những thao tác quen thuộc, ngôn ngữ chiến trận quen thuộc. Những ánh mắt gặp nhau giữa ánh chớp và bóng tối chỉ để xác nhận một điều, chúng tôi vẫn còn có nhau như đã từng mỗi khi xông vào lửa đạn, đánh cược với tử sinh. Và cũng không ai nói với ai đó là đêm cuối. Nhưng ai cũng cảm thấy sự bất lực qua từng viên đạn bắn ra. Nhưng ai cũng biết một điều gì đó đang đến hồi kết thúc. Không phải chỉ là một trận đánh mà là cả một thời đại. Viết đến đây, mắt tôi lại nhòe đi. Tôi đứng dậy, bước ra sau vườn, châm một điếu thuốc. Gió thổi qua hàng chuông gió, những tiếng leng keng như tiếng gọi từ một cõi nào xa lắm. Tôi hít sâu. Thở mạnh. Rồi quay vào, tiếp tục viết. Chuyến bay khuya hôm đó… sau khi bàn giao vùng trách nhiệm, tôi trở về cư xá. Hai đứa học trò nhỏ tôi mang về từ trưa hôm trước vẫn còn thức. Hai đứa, như tôi vẫn nói đùa, “trói gà không chặt”. Chúng tôi vừa nằm xuống thì nghe pháo kích dữ dội vào phi trường. Rồi một tiếng rít xé tai – hoả tiễn 122 ly. Nhưng… không nghe tiếng nổ. Cho đến sáng hôm sau, mọi người trong cư xá mới biết là đã thoát chết giữa đêm qua khi nhìn thấy phần đuôi của chiếc hoả tiễn đang cắm sâu vào lòng đất bên cạnh cư xá độc thân. Buổi sáng hôm ấy đã không phải là một buổi sáng bình thường, khi thấy chiếc Tinh Long 7 của phi đoàn tôi bị bắn rơi ngoài vòng đai phi trường, trước nhưng đôi mắt hoảng loạn của anh em. Đó là giọt nước làm tràn ly, không ai nói với ai lời nào, mỗi người chạy đi một ngả. Tôi cùng hai chú em đèo nhau lên chiếc Lambretite, chạy khắp các bãi đậu tìm phi cơ thoát thân. Nhưng những chiếc còn bay được đã bay đi đâu hết. Đang đứng ngơ ngác thì được một niên trưởng kéo tôi chạy theo đến một chiếc C-130 không còn nguyên vẹn, để làm phận sự phi công phụ. Chiếc phi cơ cất cánh từ cuối đường băng. Không đủ tốc độ. Không đủ điều kiện. Nhưng vẫn phải bốc mình lên nhờ vào bốn động cơ bán phản lực. Chiếc máy bay gượng lên, nhắm hướng Vũng Tàu rồi… trực chỉ Utapao, Thái Lan mang theo 115 con người không biết họ đã lên bằng cách nào. Chiều hôm đó, 29 tháng 4 năm 1975, tôi và một số anh em trong phi hành đoàn đã sững sờ rơi nước mắt khi thấy một đội ngũ quân nhân người Mỹ bắc thang lên thân máy bay sơn bỏ huy hiệu Không Quân VNCH, sau khi mọi người bị tước khí giới trước khi bước ra khỏi thân phi cơ. là tôi đã buộc phải rời khỏi đất nước trong bàng hoàng, trong vô thức, không kịp biết được tin cha mẹ anh chị em đã bị thất lạc phương nào mấy tháng qua trong chiến tranh. Không kịp báo tin với người vợ sắp cưới chỉ ở cách phi trường khoảng 6 cây số! Và cứ thế, bị đưa đẩy dọc theo hành trình trở lại đất nước nầy với thân phận vô gia đình, vô tổ quốc. Mãi đến vài năm sau mới liên lạc lại được! Cho đến bây giờ, sau hơn nửa thế kỷ, cái “không kịp” ấy vẫn còn nguyên vẹn trong tôi, như một khoảng trống không bao giờ có thể lấp đầy. Không kịp nhìn cha mẹ lần cuối. Không kịp nói một lời từ biệt với bất cứ người thân yêu nào. Không kịp khép lại một cánh cửa đời quân ngũ theo cách mà một con người lính bình thường đáng được có. Có những cuộc chia ly không có lời từ biệt, và chính vì thế, chúng không bao giờ kết thúc. Tôi ra đi trong một trạng thái không hoàn toàn tỉnh táo. Không phải chỉ hoảng loạn mà là tê điếng. Mọi thứ diễn ra quá sức nhanh, quá sức bất ngờ, con người tôi không còn cảm xúc rõ ràng. Chỉ còn hành động. Chỉ còn bản năng. Tôi ra đi, như một người bị đẩy ra khỏi chính cuộc đời mình trong khi trong lòng vẫn còn một niềm tin rất mong manh rằng đây chỉ là tạm thời. Rằng rồi sẽ có ngày trở lại. Rằng quê hương không thể biến mất chỉ qua một đêm. Rằng những gì đã xây dựng, đã sống, đã yêu, không thể bị xóa đi dễ dàng như vậy. Có nhiều lần tôi nghĩ, sự ra đi bất chợt của tôi sẽ không nhiều hối tiếc, nhiều đớn đau nếu dân tộc tôi được tự do hạnh phúc hơn, đất nước tôi trở nên thanh bình, vươn lên oai nghi, dũng mãnh như con rồng, con hổ. Nhưng rất tiếc! Rất tiếc! Thời gian, bằng sự im lặng kéo dài của nó, đã dần dần dạy tôi hiểu. Không có ngày trở lại như tôi từng mong đợi. Không phải vì không muốn, mà vì con đường đã khép lại từ lúc Việt cộng xâm chiếm miền Nam; chúng đã và đang gây ra bao nhiêu đau thương cho nòi giống, cho mảnh giang sơn gấm vóc của ông bà, tiên tổ. Mất quê hương không phải là một biến cố xảy ra trong một ngày. Nó là một quá trình. Ban đầu là sự bàng hoàng. Sau đó là niềm hy vọng. Rồi niềm hy vọng mỏng dần đi theo ngày tháng. Và cuối cùng là một sự chấp nhận trong im lặng. Không phải chấp nhận vì đồng ý mà vì dường như không còn cách nào khác. Những năm đầu nơi quê hương thứ hai nầy, mọi thứ đều xa lạ. Ngôn ngữ, phong tục, con người, đời sống. Tôi đã học tái sinh trước khi học cách tồn tại. Học cách hiểu người khác, trước khi có thể nói cho người khác hiểu mình. Học cách đứng vững trên chính đôi chân mình khi trong thâm tâm vẫn không ngớt đợi chờ một phép lạ, một ánh sáng nhỏ nhoi ở cuối đường hầm. Người ta có thể quen với nhiều thứ. Quen với thời tiết khác, quen với nhiều món ăn lạ, quen với nhịp sống của một dân tộc khác. Nhưng có một thứ không thể làm quen đó là tình tự quê hương đã mất. Quê hương không chỉ là nơi mình sinh ra. Nó là nơi mà mọi thứ đều có ý nghĩa mà không cần rao giảng. Một con đường, một góc phố, một tiếng rao, một mùi hương… tất cả đều mang theo một phần đời. Khi mất đi, không chỉ là mất một nơi chốn, mà là mất cả một hệ ký ức, một cấu trúc của đời sống con người. Có những buổi sáng, tôi tỉnh dậy và trong một khoảnh khắc rất ngắn, tôi quên mất mình đang ở đâu. Trong khoảnh khắc đó, tôi vẫn là con người của ngày xưa, sống trong một thành phố quen thuộc, những đường bay dọc ngang trên bầu trời miền Nam nước Việt mà tôi đã thuộc lòng. Nhưng rồi thực tại trở về, không ồn ào, nhưng dứt khoát, như một bàn tay ai đó đặt nhẹ nhàng lên vai, nhắc tôi rằng tất cả đã trở thành dĩ vãng. Có nhiều lúc tôi thảng thốt nghĩ rằng: Sợ một mai thân nằm yên lòng đất Hồn lẻ loi tìm không thấy quê nhà Năm mươi mốt năm trôi qua. Một đời người có thể chứa đựng bao nhiêu ký ức? Có thể chịu đựng bao nhiêu mất mát? Có thể giữ lại được bao nhiêu điều mà không đánh mất chính mình? Tôi đã sống. Đã làm việc. Đã xây dựng lại cuộc đời. Đã có những niềm vui, những thành tựu, những mối quan hệ xã hội rất tốt. Nhưng tất cả những điều đó, dù có thật, dù có ý nghĩa, vẫn không thể thay thế được những gì đã mất. Tôi nhớ những ngày tháng trước năm 1975. Không phải vì chúng hoàn hảo, mà vì chúng là một phần đời quan trọng của tôi. Những sáng nắng chiều mưa, những ngày lộng gió, những đường bay quen thuộc, những khung trời bao la, những sinh tử cận kề, những cuộc gặp gỡ, những câu chuyện, những ước mơ chưa kịp thành hình. Một đời sống bình thường như thế nhưng khi mất đi, tôi mới hiểu giá trị của nó sẽ không bao giờ có thể thay thế được. Ký ức, theo thời gian, không phai nhạt đi như người ta tưởng. Nó được chắt lọc. Những gì không quan trọng sẽ rơi rụng tự nhiên. Những gì còn lại sẽ trở nên rõ nét hơn, tinh khiết hơn, và vì thế, cũng đau xót hơn. Và tôi mang trong mình một nỗi hận. Nhưng không phải là một nỗi hận đơn giản. Nó không hướng về những con người bình thường. Tôi không hận người dân Mỹ mà tôi đã gặp, đã sống cùng, đã nhận được sự giúp đỡ của họ để xây dựng lại cuộc đời. Tôi hiểu rằng con người, ở đâu cũng có những điểm tương đồng giữa thiện và ác, hiểu biết và giới hạn. Nhưng tôi không thể không nghĩ đến những quyết định sai lầm của hệ thống cầm quyền chính phủ Mỹ và đồng minh, những phong trào phản chiến ngu xuẩn, những cơ quan truyền thông dối trá, lừa gạt dư luận. Những điều nầy đã góp phần làm thay đổi số phận của những quốc gia nhỏ bé, chậm tiến như Miền Nam Việt Nam của tôi. Một cuộc chiến không chỉ được quyết định bởi những gì xảy ra trên chiến trường mà nó được quyết định bởi những gì xảy ra trong lòng xã hội, qua truyền thông, trên trường chính trị. Khi một bên không còn được thế giới ủng hộ, không còn được bạn bè tin tưởng thì dù còn đầy đủ vũ khí cũng không thể giữ được, huống chi… chúng tôi đã phải chiến đấu với cả một thế lực cộng sản quốc tế hùng mạnh khi vũ khí đã bị chính những người bạn đồng minh tước bỏ đi. Nỗi hận của tôi không phải để nuôi dưỡng oán thù mà là để nhắc nhớ cho chính mình, nhắc nhở con cháu đời sau những gì đã xảy ra cho quê hương, dân tộc tôi không bị đi vào quên lãng. Sau tất cả, điều còn lại trong tôi không chỉ là nỗi đau. Mà là một ước vọng. Ước mong một ngày nào đó, được trở về trong tự do, trong danh dự. Không phải để bắt đầu lại, mà chỉ để nhìn lại. Để bước trên những con đường cũ dù chúng đã bị thay tên đổi họ một thời. Để nghe lại những âm thanh, những tiếng nói quen thuộc ở khắp mọi nơi. Để thấy lại một quê hương bừng sáng, một xã hội văn minh trong tình người. Được thật sự hãnh diện với 4 chữ Con Rồng Cháu Tiên. Ở tuổi này, tôi không còn sợ nhiều điều. Không còn sợ mất mát vì đã mất mát quá nhiều. Không còn sợ thay đổi vì đã sống qua những thay đổi to lớn mà chỉ sợ rằng mình sẽ không còn đủ thời gian. Không đủ thời gian để thấy ngày ấy. Không đủ thời gian để chứng kiến một kết thúc tốt đẹp như thế cho quê hương dân tộc mình; để biết rằng những nghiệt ngã mình đã trải qua trong đời không trở nên vô nghĩa. Sự chờ đợi nào cũng không mấy dễ dàng. Khi còn trẻ thì có dễ dàng hơn, nhưng khi thời gian không còn nhiều, mỗi ngày trôi qua đều mang theo một cảm giác bồn chồn, lo sợ. Không phải vì muốn đạt được điều gì, mà vì sợ không còn cơ hội ấy. Tháng Tư lại đến. Vẫn là những cơn mưa nhẹ buổi sáng, những đám mây trắng bềnh bồng ở buổi chiều dài, những khoảng lặng khó gọi tên… Những ghi nhận nầy không phải để làm thơ, khp6ng phải là thời tiết mà là một phần của đời sống nội tâm, một vùng ký ức mà mỗi năm, vào đúng thời điểm này, lại mở ra trong tôi. Tháng Tư hận. Tháng Tư đau. Mỗi năm vẫn cứ theo nhau trở về Nhưng nếu chỉ có hận và đau, con người đã không thể đi qua hơn nửa thế kỷ. Vì ở đâu đó, rất sâu, rất nhỏ, vẫn còn một thứ khác. Một thứ không sôi nổi lắm, không mạnh mẽ nhiều nhưng bền bỉ. Đó là niềm hy vọng. Hy vọng rằng một ngày nào đó, dù mình còn hay không, trên mảnh đất hình cong chữ S ấy, người dân sẽ được sống an bình, hạnh phúc mà không phải cúi đầu, lo sợ. Sẽ có những tiếng nói không bị bóp nghẹt. Sẽ có những giấc mơ không bị dập tắt. Và khi ngày đó đến, có thể, ở một nơi nào đó rất xa, những người đã ngậm ngùi nằm xuống sẽ mỉm cười. Dù muộn màng nhưng cũng có thể sẽ che giấu được những niềm đau, nỗi hận trong lòng của những người võ sĩ bị ném lên đấu trường sanh tử với tay chân bị trói chặt.
“Tháng Tư lại về, lòng người tị nạn lại xót xa nhớ về quê hương sau 51 năm xa xứ.” NGUYỄN ĐÌNH HÒA
Xin mời qúy vị thưởng thức vài nhạc phẩm của tôi đã viết.
Quê Hương Trong Ta.
Bóng Xưa Chiều Ấy.
Vụng Dại Những Chiều
Ns. Nguyễn Đình Hòa.
==
THƠ MỸ HOÀN
THÁNG TƯ NHỚ EM – MỸ HOÀN
Em đã về đây mỗi tháng Tư Về quê ngồi lại giữa sương mơ Có nghe sương rớt bờ vai cũ Bơ vơ mộng mị chốn xa mờ
Để tháng Tư như dòng nước chảy Bôn ba năm tháng nước về đâu Ta gục xuống đôi bàn tay lạnh Lòng nghe rơi rớt ánh tinh cầu
Ta nghe mãi bên bờ sông vỗ Những lời buồn của tháng trôi qua Lời tình như sóng dòng sông cuộn Nước mắt nào còn mãi mưa sa
Em ôm trái tim nào đã lỡ Một lời thề mộng ước mai sau Một nụ cười như vừa nở lại Cho ta êm ái mối tình sầu
Em đã về đây mỗi tháng Tư Về đây ta kể một lời thơ Em mặc áo dài hoa cúc nở Cùng ta đi suốt một nẻo bờ
Rồi em cảm động từng cơn khóc Vạt tóc nào đẫm lệ quê hương Tổ tiên ta đã từng hơi thở Dựng Sơn hà một giấc như mơ
Nhớ trong tâm tưởng ngày hoa gấm Nụ môi thơm khép nép hải đường Ta muốn mở lòng bao câu nói Lời yêu kia còn mãi vấn vương.
Lê Mỹ Hoàn 2/2025
NẮNG HẠN THÁNG TƯ
Tiếng kêu tha thiết gọi đàn Những ngày nắng hạn đâu tàn trú thân Lòng ta như thể nắng ran Thu Đông tan tác, Hạ hoang mang về
Nơi đây đâu phải chốn quê Cho nên nắng hạn lê thê mỏi mòn Khô đi những giọt máu hồng Dần dà cạn hết giấc nồng trong tim
Đôi môi khao khát đi tìm Tiếng kêu mòn mỏi đắm chìm nơi đâu Quê hương mấy cuộc bể dâu Trong ta một nỗi u sầu chưa tan
Thời gian lặng lẽ lướt nhanh Làm thêm héo nụ cười xanh thuở nào Ôi cơn nắng hạn lao đao Hồn ta nứt nẻ ngày vào thángTư.
Lê Mỹ Hoàn 4/20/1990
==
ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ
Đông vừa qua ở cuối đoạn đường Xuân đến những ngày nắng ấm hơn Tưởng như mùa Hạ nhưng bất chợt Lạnh lại về cơn sốt miên man
Cơn sốt cao, đầu như bổ củi Như nặng lòng đợt nắng tháng Tư Vàng sốt bủa vây ngày trốn chạy Qua cánh đồng nắng trải như phơi
Cơn sốt lên cơn mơ lại đến Chạy vòng quanh chạy đến chân tường Nghe mơ hồ ai đang hạch hỏi Bao người ngồi bó gối như ta
Rồi tự nhiên nghe mùi muối mặn Đang lênh đênh trên biển xuôi dòng Chợt thét gào như cơn thịnh nộ Biển trời đang cuộn một cơn dông
Ta bên nhau thì thầm cầu nguyện Xin trời cho gió lặng sóng êm Bỗng mở mắt dường như im lặng Tự Do đang cười với gió Xuân.
Lê Mỹ Hoàn 3/26/2025
==
THƠ TRẦN CẨM THÀNH
Tháng Tư cảm tác
Tha hương mái tóc của ngày xanh Năm tháng bạc màu trán vết nhăn Canh cánh bên lòng bao nuối tiếc Bâng khuâng tấc dạ những ăn năn
Non sông biến dạng người xa cội Đất khách dung thân kẻ rã hàng Nặng trĩu tâm tư đời viễn xứ “Nỗi buồn nhược tiểu” mãi âm vang.
Trần cẩm Thành- 4/2026.
**
THÊM MỘT THÁNG TƯ QUA – HUY VĂN
* Ngày đến. Đêm Trôi. Ngày lại đến Thời gian lắng đọng cuối tháng Tư Tháng của thiên thu buồn lệ nến khóc cảnh miền Nam hóa ngục tù.
Máu ai tuôn chảy nơi góc phố?! Chốt thí làm sao chống sơn hà!? Tiếng hờn vọng mãi vào thiên cổ Một trang Hận Sử, mấy Hùng Ca?!
Cuối Xuân cuồng lũ dâng hồng thủy Đành buông nợ Nước, phụ tình Nhà! Sông núi điêu linh vì ngạ quỷ Bao giờ yên sóng, lắng phong ba?
Ngồi đây mà nhớ thời chiến quốc Một thuở bi hùng lúc dọc ngang Chớp mắt thấy sương pha màu tóc Một tiếng than ôi! Lệ ứa tràn.
Nửa đời chìm nổi nơi đất khách Mỗi năm thêm một tháng Tư qua Quốc thù vị báo đầu tiên bạch (*) Thế sự du du nại lão hà.
HUY VĂN
* (*)THUẬT HOÀI Thế sự du du nại lão hà? Vô cùng thiên địa nhập hàm ca. Thời lai đồ điếu thành công dị, Vận khứ anh hùng ẩm hận đa. Trí chủ hữu hoài phù địa trục, Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà. Quốc thù vị báo đầu tiên bạch, Kỷ độ Long Tuyền đới nguyệt ma.
ĐẶNG DUNG
* Bản dịch của Tản Đà: Việc đời man mác, tuổi già thôi! Đất rộng trời cao chén ngậm ngùi. Gặp gỡ thời cơ may những kẻ, Tan tành sự thế luống cay ai! Phò vua bụng những mong xoay đất, Gột giáp sông kia khó vạch trời. Đầu bạc giang san thù chưa trả, Long tuyền mấy độ bóng trăng soi.
Tháng Tư trở về, không ồn ào, không gọi tên, mà lặng lẽ len vào ký ức như một làn sương mỏng. Có những khoảnh khắc của đời người, tưởng đã trôi qua, nhưng thực ra chỉ đang ẩn mình đâu đó, chờ một ngày thức dậy trong nỗi nhớ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày Sài Gòn đổi thay, là một khoảnh khắc như thế: vừa hữu hạn trong thời gian, vừa vô hạn trong lòng người.
Trong cõi vô thường, thời gian như cất lên một tiếng gọi đau thương từ tháng Tư. Tiếng gọi ấy không chỉ vang lên từ ký ức con người, mà còn dội về từ đại ngàn xanh thẫm, từ bầu trời tím ngắt cuối ngày, từ những con đường Sài Gòn xưa cũ. Những chiếc lá trong thành phố dường như cũng cảm nhận được điều gì đó – chúng vàng đi sớm hơn thường lệ, chen lẫn vào những chiếc lá đỏ, tạo thành một bức tranh chao nghiêng, ảm đạm của những ngày cuối tháng Tư.
Đất trời như chuyển mình trong một khúc giao hưởng kỳ lạ. Biển xanh không còn hiền hòa, mà dâng lên những cơn sóng giông bão, gào thét vào bờ cát phơi lưng, như muốn kể lại những biến động của một thời khắc lịch sử, của câu truyện thương tâm từ những thuyền nhân. Đó không chỉ là âm thanh của chiến tranh, mà còn là tiếng lòng của một dân tộc, của Mẹ Việt Nam, vừa đau thương, vừa kiên cường, vừa chịu đựng, vừa bao dung.
Và giữa những biến động ấy, vẫn còn đó hương thơm của ruộng đồng, mùi lúa mới lan tỏa như một lời nhắc nhở rằng sự sống vẫn tiếp diễn. Từ bùn đất, từ mồ hôi, từ nước mắt, con người vẫn đứng dậy, vẫn gieo trồng, vẫn hy vọng. Một bài ca dao âm thầm cất lên, không phải để ca ngợi chiến thắng hay thất bại, mà để chiêm nghiệm về một cuộc đổi dời kỳ lạ của vận mệnh.
Năm mươi mốt năm đã trôi qua. Tháng Tư hôm nay không còn khói lửa, nhưng dư âm của nó vẫn còn đó, âm ỉ, sâu lắng, như một dòng chảy ngầm trong tâm thức mỗi người Việt. Nỗi đau không biến mất, mà chỉ lặng lẽ chuyển hóa, trú ngụ trong ký ức, trong những câu chuyện chưa kể hết, trong những giọt nước mắt không rơi thành lời.
Tháng Tư không chỉ là một mốc thời gian. Đó là một miền ký ức. Một vết hằn của lịch sử. Một lời nhắc nhở về sự mong manh của phận người và sự khắc nghiệt của thời cuộc. Nhưng trên tất cả, đó cũng là lời mời gọi con người biết nhìn lại, biết lắng nghe, và biết cảm thông, để từ đó, học cách sống sâu hơn, bao dung hơn, và gìn giữ hòa bình như một điều quý giá nhất.
Tháng Tư vẫn còn đó. Không mất đi. Không phai nhạt. Chỉ là… đã đi vào lòng người.
Tháng Tư Bài Thơ Còn Lại
Tháng Tư về không gọi tên nỗi nhớ Chỉ gió buồn lặng lẽ bước qua tim Sài Gòn đó, một thời như giấc mộng Vỡ âm thầm như lá rụng im lìm.
Có phải trời hôm ấy nhuộm màu tím Màu ly biệt, hoàng hôn về rất lạ Những con phố bỗng dưng thành xa lạ Người đi rồi… không hẹn một ngày về.
Màu cờ đỏ, mưa rơi như dòng máu Lũ giặc tràn vào, tiếng thét thất thanh Thành phố đêm bỗng rùng mình chết lặng Vạn nỗi đau không cất nổi thành lời.
Biển vẫn xanh mà giông bão không nguôi Sóng gào thét như linh hồn đất nước Khúc giao hưởng của một thời xuôi ngược Viết bằng đời, bằng nước mắt Mẹ thôi.
Từ đại ngàn xanh thẳm đến ruộng đồng Hương lúa mới vẫn âm thầm lan tỏa Giữa đổ nát vẫn nhen lên mầm sống Một câu ca dao, âm hưởng Mẹ hiền.
Năm mươi mốt năm… tháng Tư còn đó Không mất đi, chỉ chìm vào ký ức Để đôi lúc trong đêm dài thao thức Nỗi đau xưa trở lại rất con người.
Tháng Tư ơi, khơi lại những cội nguồn Hãy ở lại như một lời nhắc nhở Rằng lịch sử không bao giờ khép cửa Và lòng người còn mãi những chia ly.
Tế Luân
Tháng Tư Dòng Nước Lũ Của Ký Ức
Tháng Tư trở về không còn là tên của một tháng, mà là một vết cắt hằn sâu trong thân phận.
Tháng Tư của một thời đã xa, vừa ập tới như cơn hồng thủy hỗn mang, cuốn phăng mọi trật tự vốn dĩ của đời người. Không một lời báo trước, không kịp chuẩn bị, chỉ còn hoảng loạn và chia lìa.
Gia đình tan tác. Bè bạn lạc nhau. Quê hương bỏ lại. Tất cả như một đàn chim đang yên ổn giữa trời bỗng bị giông bão xé tung, mỗi con bay về một hướng, không biết có còn ngày gặp lại.
Trong cơn cuồng phong ấy, mỗi con người chỉ còn là một hạt bụi nhỏ nhoi, như chiếc lá cuốn theo dòng nước, bị đẩy trôi mà không thể cưỡng lại.
Mọi thứ diễn ra quá nhanh. Những quyết định không còn là lựa chọn, mà chỉ là phản xạ sinh tồn.
Giữa trăm mối hỗn độn, người ta chỉ còn biết chạy, chạy trốn khỏi đổ vỡ, chạy về phía một miền đất tự do, dù biết rắng nó rất mơ hồ.
Có những điều, khi xảy ra, ta tưởng là bất khả kháng. Nhưng thời gian không xóa đi, nó chỉ làm rõ hơn những khoảng trống trong lòng. Khi mọi thứ lắng xuống, khi đời sống dần tìm lại nhịp thở, thì ký ức lại dâng lên như một cơn sóng khác, âm thầm mà dữ dội.
Tôi đã không kịp đến. Không một nén hương. Không một lời giã biệt.
Nỗi oan ấy ở lại, không ồn ào, nhưng dai dẳng. Không trách móc, mà lặng lẽ khắc sâu, khiến lòng người không thể nguôi quên.
Tháng Tư, vì thế, không chỉ là tháng của biến động. Nó là tháng của những điều chưa kịp làm. Của những lời chưa kịp nói. Và của những cuộc chia ly không có lần sau để sửa lại.
Tạ Lỗi
Hãy tha thứ cho anh Giữa chuyển dời nghiêng ngả Bước chân đi vội vã Lạc mất lối quay về.
Hãy tha thứ cho anh Một lần buông rơi tất cả Không một lời tiễn biệt Cuối Tháng Tư não nề.
Hãy tha thứ cho anh Ngôi mộ buồn lặng lẽ Không khói hương sớm chiều Không một nén phân ưu.
Hãy tha thứ cho anh Những tháng năm xa xứ Mỗi lần nhớ đến em Là một lần ray rứt.
Hãy tha thứ cho anh Nếu tình còn mắc nợ Xin gửi về quê hương Một giọt buồn quốc hận.
Trong dòng phim truyền hình nhiều tập của Trung Quốc, có một nhân vật rất đặc biệt là Tế Điên, một vị cao tăng với phong thái kỳ dị, hành tung khó đoán, khi tỉnh khi say, khi nghiêm khi “điên”, nhưng lại ẩn chứa trí tuệ và lòng từ bi sâu sắc.
Chữ “Tế Điên” khiến tôi liên tưởng đến bút hiệu của mình là “Tê Luân”. Một sự đồng âm thú vị. Thế là tôi “mượn chút duyên” của chữ Điên, tự gọi vui mình là
“Tế Điên Thi Sĩ”. Cái “điên” ấy không phải là mất kiểm soát, mà là một chút phá cách, một chút tự do trong cảm xúc, để thơ không bị gò bó, để tâm hồn được thả trôi theo những rung động rất thật.
Và có lẽ, đôi khi trong những vần thơ của tôi, vẫn thấp thoáng một chút “điên” như thế… Trong bài Thơ.
“Nỗi Buồn Mang Tên Em”
là một dòng chảy cảm xúc lặng lẽ, nơi thi sĩ đi giữa ranh giới của ký ức và hiện tại, của yêu thương và mất mát.
Bài thơ không kể một câu chuyện cụ thể, mà mở ra một không gian nội tâm đầy hình ảnh, nơi những con chữ biết thở, biết mang nặng, biết bùng cháy và biết lặng im.
Từ một chữ Yêu rất lớn đến một chiếc lá đặt nhẹ giữa trang đời, hành trình của bài thơ cũng là hành trình của cảm xúc: từ mãnh liệt đến tĩnh tại, từ gọi tên đến không cần gọi tên. Và chính trong sự im lặng ấy, nỗi buồn không còn là nỗi buồn, mà trở thành một dư âm ấm áp, còn ở lại rất lâu trong
lòng người đọc.
NỖI BUỒN MANG TÊN EM
Tôi ngước nhìn trời mây Vẽ những hình tưởng tượng Mang về Gấp lại thành thơ.
Tôi là kẻ Nghệ sĩ lang thang Thích đi giữa những câu chưa kịp viết.
Chỉ một chữ Yêu Cũng đủ Cho tôi nằm xuống một đời.
Giữa ngổn ngang ý nghĩ Giữa những ngõ ngách thành phố Tôi lênh đênh như con thuyền lạc bến Thả lưới vào đêm Kéo lên toàn là chữ Ướt sũng nỗi buồn.
Tôi đổ chúng vào trang giấy Chúng tự ghép thành câu Như thể Đã quen nhau từ trước.
Khi nhớ đến em Tôi mang thơ ra phơi nắng Sân gạch đỏ Nắng gắt như lửa Những câu thơ khô dần Cong lại Như sắp cháy.
Tôi sợ một ngày Ngọn lửa ấy bùng lên Cháy mất căn nhà Cháy lan cả thành phố Nơi tôi Và em Từng tồn tại thật.
Như tình yêu Tôi đã trao em.
Khi yêu Tôi viết chữ Yêu thật lớn Nó nặng đến mức Làm cong trang giấy Chữ rơi xuống Tôi hứng bằng hai bàn tay Chợt hỏi: Hay mình là thi sĩ?
Có lẽ vậy…
Vì bất cứ nỗi buồn nào ghé qua Tôi cũng rung động Như thể Nó có tên em.
Và tôi Đến cuối cùng Chỉ biết một điều:
Tôi vẫn yêu em.
Rồi một ngày Tôi không còn viết chữ Yêu thật lớn nữa Chỉ đặt nó Nhẹ như một chiếc lá Giữa trang đời.
Gió có thể cuốn đi Nắng có thể làm phai Nhưng đâu đó Trong những dòng chữ cũ Vẫn còn một khoảng ấm Chưa từng tắt.
Nếu ai hỏi Nỗi buồn này tên gì Tôi sẽ mỉm cười Không trả lời.
Vì tôi biết Không cần hỏi nữa Nỗi buồn này Đã là em.
“Tàn Phai” là một tiếng nói tiêu biểu cho dòng thơ tưởng niệm Tháng Tư Đen, không ồn ào, không hô hào, mà nghiêng về chiêm nghiệm và hồi tưởng.
Bài thơ không cố kể lại lịch sử, mà chỉ chạm vào những mảnh vỡ của ký ức: như chạm vào một cánh hoa, một trang giấy, một nỗi sầu mọc lên từ lòng đất.
Chính sự tiết chế ấy làm nên giá trị của bài thơ, nỗi đau không cần nói lớn, vẫn có thể lan xa.
“Tàn Phai – Tháng Tư” của Tế Luân là một khúc thơ tưởng niệm nhẹ mà sâu, nơi những hình ảnh giản dị như hoa tàn, trang giấy, sợi tóc bạc, chíng điều giản dị này đã trở thành biểu tượng cho một giai đoạn lịch sử đầy chia ly và mất mát. Bài thơ không tái hiện biến cố bằng sự dữ dội, mà bằng dư âm, ẩn chứa trong tâm hồn những gì còn lại sau khi mọi thứ đã qua đi, nhưng vẫn chưa bao giờ thực sự khép lại trong lòng người.
Tàn Phai Tháng Tư
Cánh hoa nào đã tàn Hương nhụy nào đã phai Chỉ thấy sợi tóc bạc Phất phơ trên bờ vai.
Ý thơ vừa chen lấn Vào ký ức thời gian Chữ còn chưa khô mực Sao đã vội sang trang.
Buồn xâm chiếm nắng hạ Tháng Tư ngày chia tay Khép lại trang chiến sử Chia đôi cuộc lưu đầy.
Bom đạn cầy sới đất Tháng tư mọc nỗi sầu Trái tim đau thống khổ Niệm khúc buồn thương đau.
Tế Luân
Nhận xét bài thơ “Buồn nào chạm nhẹ”
“Buồn nào chạm nhẹ” là một thi phẩm đậm chất trữ tình, mang hơi thở cổ điển pha lẫn cảm xúc hiện đại về nỗi buồn và thân phận. Ngay từ những câu mở đầu, tác giả đã dựng nên một không gian mờ ảo với “sương trắng”, “trăng”, “hoa rơi”, tạo nên một bức tranh giàu tính thị giác nhưng cũng thấm đẫm cảm xúc nội tâm.
Cái buồn trong bài thơ không dữ dội, mà lan nhẹ như sương, như một nỗi niềm thấm dần vào lòng người đọc.
Điểm nổi bật của bài thơ là cách sử dụng hình ảnh mang tính ước lệ và giàu tính biểu tượng: “tà áo mỏng”, “nụ tầm xuân”, “dấu hài”, “đóa vô thường”… Những hình ảnh này gợi nhớ đến thi ca truyền thống, đồng thời mở ra chiều sâu triết lý về kiếp người, mong manh, phù du, và đầy những “oan khiên phận đời”.
Ngôn từ trong thơ mềm mại, nhịp nhàng, như một khúc ngâm buồn.
Tác giả khéo léo chuyển từ cảnh sang tình, từ ngoại cảnh sang nội tâm, khiến nỗi buồn không chỉ là cảm xúc cá nhân mà trở thành một trạng thái thẩm mỹ, một vẻ đẹp của cô đơn và hoài niệm.
Đặc biệt, đoạn cuối với hình ảnh “Dóa vô thường nở trong người suy tư”. Đó không chỉ là nỗi buồn của tình yêu, mà còn là nỗi buồn của thời gian, của kiếp người trôi nổi giữa dòng đời vô định.
“Buồn nào chạm nhẹ” của Lê Tuấn là một khúc thơ trữ tình sâu lắng, nơi nỗi buồn được chưng cất thành vẻ đẹp tinh khôi và mong manh như sương khói. Bài thơ dẫn người đọc bước vào một không gian vừa thực vừa mộng, nơi những hình ảnh quen thuộc như trăng, hoa, tà áo, bước chân, đã trở thành biểu tượng cho tình yêu, ký ức và những day dứt không nguôi.
Không ồn ào hay bi lụy, nỗi buồn trong thơ Tế Luân là một sự chạm nhẹ nhưng sâu, lặng im nhưng ấn tượng. Qua từng câu chữ, tác giả gợi lên hành trình của một tâm hồn đi qua yêu thương, mất mát và chiêm nghiệm, để rồi lắng đọng lại trong một nỗi suy tư về vô thường và kiếp người.
Đây là một bài thơ dành cho những ai từng đi qua những rung động mong manh của tình yêu, từng giữ lại trong lòng một nỗi buồn đẹp, như một vết thương chạm nhẹ không thể xóa nhòa.
Buồn Nào Chạm Nhẹ
Nỗi buồn sương trắng bay về Hạt sương đêm đọng trên lề trang thơ Trăng còn đẫm nguyệt trong mơ Hoa rơi thềm lạnh hững hờ sương bay.
Buồn nào chạm nhẹ trên tay Cho rung động đến trải bày tình riêng Em về hoa lá chao nghiêng Giải oan bao nỗi oan khiên phận đời.
Nụ cười hồng má đôi mươi Bay tà áo mỏng bước dời gót xuân Nụ tầm xuân vướng theo chân Cho bao thương nhớ tần ngần nhìn theo.
Lệ rơi ướt mối tình nghèo Bước đi lòng vẫn nghẹn ngào thương ai Tìm xem có một dấu hài Buông lời ướm hỏi trang đài còn vương.
Buồn nào chạm bóng tà dương Xa xăm mấy nẻo một phương diệu vời. Một thời trôi nổi bên trời Đóa vô thường nở trong người suy tư.
Tế Luân
Xa Nhau Tháng Tư
Xa nhau ngày đó tháng tư về Lạc mất tình xuân lỗi hẹn thề Chia cắt đôi bờ xa khuất bóng Cõi hồn thương nhớ buồn lê thê.
Dấu đi góc khuất một hồn thơ Tiếng nấc chưa ngưng vẫn đợi chờ Ngôn ngữ còn tuôn đầy nỗi nhớ Lòng như chất chứa đầy trong mơ.
Người yêu biển nhớ mối tình đầy Biền biệt tha phương giữa chốn này Mỏi cánh chim bay trời gió lạnh Buồn nào day dứt ngày chia tay.
Cơn đau thân phận cũng qua mau Số phận chia đôi cả nỗi sầu Năm tháng vấn vương ngày ly biệt Tháng Tư, vận nước đã thay màu.
Tế Luân
Tháng Tư Lại Về
Tháng Tư buồn lặng lẽ Nắng hạ còn đơn côi Sương mù giăng khắp lối Lòng xao xuyến bồi hồi.
Em! Một thời để nhớ Anh! Chinh chiến tơi bời Sài Gòn thời hoa mộng Lưu luyến một phương trời.
Con đường lá me bay Đợi nhau mối tình đầy Sông Sài Gòn dòng chảy Cánh chim mờ chân mây.
Tháng Tư về hoang mang Chiến tranh thật kinh hoàng Đoàn người đi vội vã Chia ly trong ngỡ ngàng.
Tháng Tư ta mất nhau Hồn đau thấm nỗi sầu Từ nay “Tự Do” mất Chia đôi hai nhịp cầu.
Thái Bình Dương xa cách Hai bên sóng vỗ bờ Sóng thay màu tang trắng Quê hương vẫn đợi chờ.
Em bây giờ mong đợi Những yêu thương một thời Sài Gòn ngày xưa ấy Ta lạc nhau mất rồi.
Tế Luân
Tháng tư là mùa của hoa loa kèn (hay còn gọi là huệ tây, bách hợp), loài hoa được mệnh danh là "nữ hoàng tháng 4" hay hoa "gọi hè về". Hoa loa kèn có màu trắng tinh khôi, mộc mạc, thường nở rộ vào đầu hạ và xuất hiện nhiều trên các gánh hàng rong phố phường.
Hoa Xuân Tháng Tư
Hoa xuân vẫn nở dưới trời xuân Một cánh chim bay bỗng ngại ngần Em về áo lụa bay trong gió Mảnh áo tơ trời ngắm hở hang.
Viền mắt tô màu tim tím lệ Như buồn ly biệt một ngày đi Em không tô điểm màu son thắm Cho cõi lòng tôi vẫn nghĩ suy.
Mưa gió chiều nay xám bụi mờ Má hồng phơn phớt lẳng lơ chờ Thân gầy mảnh khảnh, hơi sương lạnh Sao mắt em buồn tím ngẩn ngơ.
Đôi mắt thấm buồn lệ tháng tư Khóc vì sao rụng, bóng chân như Niềm tin đã mất vào tay giặc Chia cách nhau rồi gió bụi mù.
Lê Tuấn Hoa xuân tháng tư buồn
Nỗi Oan Tháng Tư
Ta rót rượu buồn giải nỗi oan Tháng tư trời đất nhuộm màu tang Lòng vẫn nghe đau buồn thế sự Tiếng động đổi dời vẫn âm vang.
Ta tưởng thời gian lướt qua nhanh Nào ngờ dòng lệ vẫn chứa chan Dòng máu ân tình còn tuôn chảy Từ chiến tranh về nhang khói tan.
Tay run ly rượu đầy sóng sánh Rải xuống thềm, cỏ dại úa vàng Cơn gió hú. Trời câm đất nín Đời im lìm, mộng lớn chưa thành.
Cúi chào nhau, mái đầu tóc trắng Nghe nặng hồn đau nỗi oan này Lịch sử ngơi đi cùng năm tháng Sao tháng tư buồn, nhang khói bay.
Lê Tuấn
Hạt Bụi Thời Gian
Hạt bụi bay về vướng mắt ai Xót xa dòng lệ nhớ thương hoài Tháng tư chuyển dời bao xung xát Tiếng người còn nghe nỗi lạc loài
Thức dậy mà đi đêm đã mỏi Còn ai nhớ lấy phút giây này Tháng tư trời đất cơn giông lửa Lồng lộn điên rồ khói bụi bay
Thành phố, buồn vương những hàng cây Tà áo nữ sinh thoáng gió bay Chưa vội làm quen, đời tan hợp Chỉ tiếc ngày xưa chưa nắm tay.
Cơn đau nỗi nhớ buồn than khóc Tổ Quốc từ nay đã đổi thay Tiếng thét giữa trời đêm nổi gió Nghe cả hồn ta những đắng cay.
Tế Luân
Tháng Tư Buồn.
Anh ở nơi này em ở đâu Hôm nay trời đất tự nhiên sầu Nhớ người xa vắng buồn lặng lẽ Bóng đổ hoàng hôn nắng phai màu.
Ở phía xa xa bóng dáng ai Tà áo nhẹ bay chiều nắng phai Mắt buồn như hướng về xa vắng Còn đứng chờ ai! Bóng đổ dài.
Phố vắng hạ về chợt bơ vơ Vạt áo ai bay, bước hững hờ Chạnh lòng nghĩ đến mà thương nhớ Tháng Tư buồn viết một bài thơ.
Lê Tuấn “người thích làm thơ cho vui”
Khúc Cầu Hồn Tháng Tư Đen.
Khúc Cầu Hồn Tháng Tư Đen, của Tế Luân không chỉ là một bài thơ, đó là một ca khúc tưởng niệm thấm đẫm ký ức và nước mắt của một dân tộc đi qua biến cố Sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. Tác giả đã khắc họa lại một Tháng Tư không thể phai mờ: nơi chiến tranh khép lại bằng im lặng nặng nề, nơi con người buộc phải rời bỏ quê hương, và nơi tự do trở thành khát vọng được đánh đổi bằng sinh mạng.
Bài thơ là dòng chảy của ký ức, đã được hòa âm trong một giái điệu Ballads Ruma, qua hai giọng hát Nam Nữ. Nhịp điệu diễn tả, từ thành phố chết lặng trong khói lửa, đến những đoàn người ly hương, những con thuyền mong manh giữa biển đêm, và cả những phận người bị vùi lấp trong lao tù, trong các trại tập trung của cộng sản.
Mỗi hình ảnh đều như một lát dao cắt hằn sầu của lịch sử, đau đớn nhưng chân thực, riêng tư nhưng cũng mang tính cộng đồng sâu sắc.
Chính vì sức nặng cảm xúc và chiều sâu nhân bản ấy, Khúc Cầu Hồn Tháng Tư Đen, đã được phổ thành một ca khúc mang âm hưởng bi hùng tráng.
Khi giai điệu cất lên, lời thơ không còn chỉ được đọc, mà được sống lại, ngân vang như tiếng gọi của ký ức, như lời cầu nguyện cho những linh hồn đã khuất, và như một lời nhắc nhở không thể lãng quên về giá trị của tự do.
Đây không chỉ là một tác phẩm nghệ thuật, mà còn là một chứng tích tinh thần bất khuất, nơi quá khứ và hiện tại gặp nhau, để mỗi người Việt, dù ở bất cứ nơi đâu, cũng có thể cúi đầu tưởng niệm, và lắng nghe tiếng vọng từ một Tháng Tư chưa bao giờ thực sự khép lại.
Khúc Cầu Hồn Tháng Tư Đen
Tháng Tư đã trở về gió vẫn thổi qua những hàng cây cũ nhưng trong lòng người một khoảng tối theo chiều bóng đổ Vẫn còn đậm màu tưởng nhớ.
Ngày ấy tháng Tư một ngày mưa giông khói lửa chiến tranh thành phố bỗng chết lặng đi như trái tim ngừng đập giữa lịch sử.
Đoàn người vội vã ra đi chỉ kịp mang theo một nắm đất quê hương và tiếng than khóc của mẹ của con thơ vỡ tung ra từng mảng sau lưng.
Biển đêm mở ra những con sóng phẫn nộ những con thuyền nhỏ bé không sợ chết bồng bềnh như chiếc lá trôi giữa biển đông mênh mông tìm hy vọng giữa tuyệt vọng.
Có người đến được bến bờ tự do có người nằm lại dưới lòng biển lạnh không một nấm mồ chỉ còn những con sóng biển hát ru theo lời kinh cầu.
Người ở lại quê hương những cánh cổng trại tù mở ra Rồi nuốt chửng tuổi trẻ, tình yêu, Ngày tháng tương lai và giấc mơ người công chính bị giam trong những trại tù tập trung cộng sản Nơi núi rừng sâu thẳm.
Năm mươi năm thời gian đi qua như gió nhưng mỗi độ Tháng Tư về những linh hồn xưa Vẫn trở về trong ký ức. Để cho hồn đá vẫn tôn thờ Vong linh người chiến sĩ tự do.
Chúng ta thắp một ngọn nến cho những người lính đã ngã xuống cho những người dân vô tội cho những con thuyền không bao giờ cập bến.
Hằng đêm Em cúi xuống Để rơi ngàn giọt lệ Khóc cho đầt cho ngọn nến lung linh Cho đêm trường lung linh ngọn nến sáng Tấm thẻ bài chợt lóe sáng trong đêm.
Và khóc cho quê hương vẫn còn đó trong trái tim người Việt tha hương một vết thương không bao giờ khép lại.
Tháng Tư đen không chỉ là một ngày của lịch sử mà là một bản án lương tâm. rằng tự do đã từng được trả giá bằng rất nhiều sinh mạng và rất nhiều nước mắt.
Tế Luân
“Không Quên Tháng Tư” là một lời tưởng niệm lặng lẽ, âm thầm, mà sâu lắng, mang theo nỗi đau chưa bao giờ khép lại của một giai đoạn lịch sử đầy biến động.
Ngôn ngữ trong thơ trầm tĩnh nhưng day dứt, tác giả không chỉ gợi lại hình ảnh Sài Gòn trong cơn đổi dời, mà còn khắc họa những mất mát của con người, từ những hình ảnh đoàn người lầm lũi, những trại tù u tối, đến những con thuyền lênh đênh giữa biển Đông.
Không rơi vào bi lụy, khóc than, bài thơ chọn cách nói bằng ký ức và hình ảnh, để từ đó đánh thức một nỗi nhớ chung về quê hương, về những điều đã mất nhưng chưa bao giờ bị lãng quên.
KHÔNG QUÊN THÁNG TƯ
Tôi không quên tháng Tư năm đó Sài Gòn bị cướp mất tên Đường phố tháng Tư mưa loạn, gió cuồng.
Tự do bị xóa chỉ còn lại một lá cờ máu đẫm lệ trong cơn mưa chiều.
Tôi không bao giờ quên tháng Tư năm ấy Đoàn người cúi mặt lầm lũi bước đi Những trại tù âm u bóng tối.
Có những sinh linh bị thiêu cháy giữa kiếp người Có những con thuyền lênh đênh trên Biển Đông cùng tháng Tư đổi dời.
Biển động, gió cuồng con thuyền tan nát cuốn trôi phận người vô tội những cái tên không kịp gọi chìm xuống đáy sâu.
Người ta gọi họ là thuyền nhân nhưng trong tim Việt Nam đó là những vết thương không lành.
Năm mươi mốt năm vết thương vẫn còn đó tưởng đã ngủ yên trong quá khứ nào ngờ lửa vẫn âm ỉ cháy mỗi độ tháng Tư về.
Đừng tưởng tôi quên tháng Tư những hình ảnh năm ấy vẫn đau, vẫn nhớ, vẫn thương xương máu của bao người chiến sĩ đã ngã xuống cho hai chữ Tự Do.
Đừng tưởng tôi quên tháng Tư và những tháng Tư tiếp nối có bao giờ tôi quên những bàn tay cướp nước cướp cả tên Sài Gòn cướp luôn Tự Do.