Cái Tôi Đi Hết Một Đời Người - Triết Luận Đời Sống - Tế Luân



CÁI TÔI ĐI HẾT

MỘT ĐỜI NGƯỜI


   Triết luận đời sống - Tế Luân

Nhiều người thường nghĩ cái tôi là điều cần phải loại bỏ. Thực ra không phải vậy. Nếu không có cái tôi, con người sẽ không còn lòng tự trọng, không biết bảo vệ phẩm giá, không dám theo đuổi ước mơ, cũng chẳng đủ nghị lực vượt qua nghịch cảnh.

Chính cái tôi đã khiến cậu bé nghèo quyết tâm học hành để đổi đời.
Chính cái tôi khiến người nghệ sĩ dành cả đời đi tìm cái đẹp.
Chính cái tôi khiến nhà khoa học miệt mài khám phá chân lý.
Chính cái tôi giúp con người không chịu khuất phục trước bất công.

Ở phương diện ấy, cái tôi là ngọn lửa của ý chí. Nó tạo nên bản lĩnh, lòng tự tin và khát vọng vươn lên. Không có cái tôi, nhân loại sẽ không có những phát minh, những tác phẩm văn chương bất hủ hay những cuộc cách mạng làm thay đổi lịch sử. Nhưng ngọn lửa nào cũng có thể sưởi ấm, và cũng có thể thiêu rụi chính người đang nhóm nó.

Khi cái tôi biến thành bản ngã.
Điều đáng sợ không phải là có cái tôi.
Điều đáng sợ là con người đồng nhất mình với cái tôi.
Khi ấy, ta không còn nhìn sự việc như nó vốn là, mà chỉ nhìn qua lăng kính của sự tự ái, đặt cái tôi của mình lên cao một cách qúa đáng.
Ta luôn muốn mình đúng.
Muốn mình hơn người.
Muốn người khác phải công nhận mình.
Muốn chiến thắng ngay cả trong những điều không đáng để thắng.
Cái tôi lúc ấy giống như một vị vua độc đoán ngự trị trong tâm trí.
Nó không cho phép ta nhận lỗi.
Không cho phép ta học hỏi.
Không cho phép ta cúi đầu.
Và cũng không cho phép người khác tốt hơn mình.

Có những cuộc cãi vã trong gia đình kéo dài hàng chục năm chỉ vì không ai chịu nói một lời xin lỗi. Có những tình bạn tan vỡ chỉ vì một lời tự ái.
Có những cuộc chiến tranh nổ ra vì lòng kiêu hãnh của vài con người đứng đầu một quốc gia. Điều tưởng chừng rất nhỏ trong một tâm hồn lại có thể tạo nên những bi kịch rất lớn của lịch sử.
Cái tôi càng lớn, thế giới càng nhỏ
Một nghịch lý thú vị là:
Người càng tự cho mình vĩ đại thì thế giới của họ càng chật hẹp.
Bởi họ chỉ nhìn thấy chính mình.
Mọi lời góp ý đều trở thành sự xúc phạm.
Mọi thành công của người khác đều trở thành mối đe dọa.
Mọi thất bại đều được đổ lỗi cho hoàn cảnh.
Trong khi đó, người có cái tôi khiêm tốn lại nhìn thấy cả bầu trời.
Họ biết lắng nghe.
Biết cảm ơn.
Biết xin lỗi.
Biết học hỏi ngay cả từ người kém mình.
Chính vì thế, họ trưởng thành nhanh hơn.
Cây lúa càng nhiều hạt càng cúi đầu.
Biển rộng vì ở chỗ thấp.
Con người lớn vì biết mình nhỏ.

Tuổi tác không làm cái tôi trưởng thành
Nhiều người sống tám mươi năm mà cái tôi vẫn như một đứa trẻ. Họ vẫn thích được khen. Vẫn giận dỗi khi bị phê bình. Vẫn muốn người khác phải chiều theo ý mình.
Trong khi có những người mới ngoài ba mươi đã học được sự bình thản.
Điều làm con người trưởng thành không phải số năm đã sống. Mà là số lần dám nhìn lại chính mình. Một người từng trải thường hiểu rằng: Thắng một cuộc tranh luận không quan trọng bằng giữ được một mối quan hệ. Được người khác kính trọng quý hơn việc bắt họ phải phục tùng.
Biết im lặng nhiều khi còn khó hơn biết nói.

Cái tôi trong văn chương và nghệ thuật

Đối với người cầm bút, cái tôi lại mang một ý nghĩa khác. Nếu không có cái tôi, sẽ không có phong cách. Không có giọng nói riêng. Không có cá tính sáng tạo.
Mỗi nhà thơ đều viết bằng chính linh hồn mình.
Mỗi nhà văn đều kể lại thế giới bằng đôi mắt riêng.
Chính cái tôi tạo nên dấu ấn của tác giả.
Nhưng người nghệ sĩ lớn không viết để ca ngợi cái tôi. Họ dùng cái tôi để
nói lên tiếng nói của nhân loại. Khi đó, cái tôi cá nhân tan vào cái ta chung môi người. Một bài thơ hay luôn khiến người đọc tưởng như đang đọc chính cuộc đời mình. Một cuốn sách lớn luôn vượt khỏi tên tuổi của tác giả để sống trong lòng nhiều thế hệ.

Luận bàn thêm về cái tôi. Mỗi người trong chúng ta đều có một người bạn rất thân thiết rất gần gũi, nó gần gũi và thân thuộc đến nỗi chúng ta đã quên mất sự hiện diện của nó.
Người bạn đã theo tôi từ ngày mở mắt chào đời cho đến hôm nay, khi mái tóc đã bạc như mây trắng chạy quanh sườn núi.

Người bạn ấy không có hình dáng.
Không có tiếng nói.
Nhưng chưa một ngày nào rời khỏi tôi. Đó chính là cái bóng của chính tôi.
Đó là cái tôi.

Thuở nhỏ, cái tôi chỉ là một đứa trẻ thích chơi đùa nghịch ngợm, nhưng cũng thích được cha mẹ khen, thích được thầy cô giáo khen trước lớp. Một lời chê cười cũng đủ làm cái tôi giận cả ngày. Khi ấy, cái tôi hồn nhiên như một cánh diều, bay theo từng cơn gió của cuộc đời. Rồi cái tôi trưởng thành trong gió bụi của chinh chiến
Rồi đất nước bước vào chiến tranh.

Cái Tôi khoác áo lính.
Lần đầu tiên đứng giữa ranh giới của sự sống và cái chết, cái tôi mới hiểu rằng con người nhỏ bé biết bao. Trên chiến trường, viên đạn không hỏi ai là bạn ai là thù, không hỏi ai giàu, ai nghèo, ai là người tài giỏi. Trước cái chết, mọi danh vọng đều trở nên mong manh như hạt sương đầu cỏ.
Nhưng chính lúc ấy, cái tôi lại mang một ý nghĩa khác.
Đó không còn là lòng kiêu hãnh của tuổi trẻ.
Mà là danh dự của một người lính.
Có những điều không thể cúi đầu.
Có những điều phải giữ, dù phải đánh đổi bằng cả cuộc đời.

Cái tôi đi tù
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Miền Nam Việt nam rơi vào tay quân cộng sản. Tôi bước vào những năm tháng lao tù, trong các trại tù tập trung của cộng sản.
Những bức tường đá và hàng rào kẽm gai không chỉ giam giữ thân xác của một con người, mà còn thử thách nhân phẩm của con người.
Ở đó, người ta có thể lấy đi tự do.
Có thể lấy đi tuổi trẻ.
Có thể lấy đi những giấc mơ.
Nhưng nếu để mất lòng tự trọng thì chính mình đã tự mở cửa nhà tù trong tâm hồn.
Có những đêm nằm giữa rừng sâu, tôi tự hỏi:
"Cái gì còn lại khi một con người không còn gì cả?"
Câu trả lời không phải là tiền bạc.
Không phải địa vị.
Cũng không phải quyền lực.
Điều còn lại chính là nhân cách.
Khi ấy tôi chợt nhận ra:
"Đến cuối cùng, tôi mới hiểu rằng nhà tù giam được thân xác con người, nhưng không giam được trái tim của một tâm hồn còn biết tự trọng."
Khi "tiếng xích sắt và ổ khóa va chạm nhau". Khép lại cánh cửa phòng giam. Nó không chỉ khóa cánh cửa nhà tù. Nó còn khóa luôn một khoảng trời tự do phía sau lưng mỗi người tù." Đó là cái tôi đẹp nhất mà tôi học được trong những năm tháng tối tăm nhất của đời mình.

Cái tôi của tuổi già


Khi bước vào tuổi 80 sau khi trải qua năm tháng nghỉ hưu, tôi tập trung vào việc viết sách, tôi đã viết 9 quyển sách và in tại Hoa Kỳ, nhưng tôi có dự tính viết thêm một quyển nữa cho đủ 10 quyển sách. Hay có thể viết nhiều hơn nếu sức khỏe cho phép. Hy vọng "Mỗi cuốn sách chỉ là một viên sỏi nhỏ tôi đặt bên dòng thời gian. Điều tôi mong không phải là người đời nhớ tên mình, mà là có ai đó nhặt lên một viên sỏi ấy và hiểu thêm một đoạn lịch sử."

Có người hỏi tôi:
"Ông đã viết gần mười cuốn sách, điều gì làm ông mãn nguyện nhất?"
Tôi mỉm cười.
Không phải số sách.
Cũng không phải những lời khen.
Mà là niềm hy vọng biết đâu, một ngày nào đó, một người trẻ mở một trang sách cũ của tôi, đọc vài dòng chữ và hiểu thêm vì sao cha ông mình đã sống như thế.
Nếu được như vậy, ngòi bút của tôi không uổng phí.
Bước sang tuổi tám mươi, tôi lại gặp cái tôi thêm một lần nữa.
Lần này, nó không còn hiếu thắng.
Không còn muốn hơn ai.
Không còn bận lòng vì những lời khen chê trên mạng xã hội hay ngoài cuộc đời. Tôi nhận ra một điều rất lạ. Con người càng lớn tuổi càng thấy mình nhỏ lại.
Không phải vì sức khỏe yếu đi. Mà vì mình đã hiểu rằng sự hiểu biết của chính mình quá ít.
Bầu trời rộng hơn điều mình tưởng.
Lòng người sâu hơn điều mình hiểu.
Và thời gian thì ngắn hơn điều mình từng nghĩ.
Ngày trẻ, tôi muốn chứng minh mình đúng. Khi càng về già, tôi chỉ mong giữ được lòng bình an.
Ngày trẻ, tôi thích tranh luận.
Ngày già, tôi thích lắng nghe.
Ngày trẻ, tôi muốn thay đổi thế giới.
Ngày già, tôi chỉ cố gắng sửa lại chính mình.
Có lẽ đó là bài học khó nhất của một đời người.
Tôi từng gặp nhiều người rất thành công nhưng không hạnh phúc.
Họ chiến thắng cả thiên hạ, nhưng chưa bao giờ chiến thắng được bản ngã của chính mình. Họ có mọi thứ, chỉ thiếu sự bình yên. Cũng có những người sống âm thầm.

Không danh tiếng.
Không giàu có.
Nhưng ánh mắt họ hiền hòa.
Nụ cười họ thanh thản.

Bởi họ đã học được cách sống chung với cái tôi, chứ không để cái tôi sai khiến mình. Nghĩ cho cùng, cái tôi cũng giống như ngọn lửa.
Đủ ấm để soi sáng con đường.
Đừng quá lớn để thiêu cháy cả khu rừng.
Hơn tám mươi năm đi qua, tôi không còn muốn thắng ai nữa. Tôi chỉ muốn mỗi buổi sáng còn được nhìn mặt trời lên.
Còn được nghe tiếng chim ngoài hiên. Còn được cầm cây bút viết thêm vài dòng tiếng Việt. Còn được ngồi với bạn bè nhắc chuyện cũ mà không hờn trách ai.
Nếu mai này phải rời xa cuộc đời, tôi cũng chỉ mong để lại sau lưng vài cuốn sách, vài bài thơ và một chút lòng tự trọng.
Đó không phải là chiến thắng của cái tôi.
Mà là sự bình yên sau khi cái tôi đã đi hết một đời người.
Có lẽ, con người không cần tìm cách tiêu diệt cái tôi. Chỉ cần sống đủ lâu, đủ đau, đủ mất mát và đủ yêu thương, cái tôi sẽ tự biết cúi đầu.
Và khi cái tôi biết cúi đầu, tâm hồn mới thật sự ngẩng cao.

Lời kết

Cái tôi giống như con dao hai lưỡi. Được sử dụng đúng, nó tạo nên nhân cách, lòng tự trọng và sức mạnh để vượt qua nghịch cảnh.

Được nuôi dưỡng bằng kiêu ngạo và ích kỷ, nó trở thành chiếc lồng giam giữ chính tâm hồn mình. Con người không cần giết chết cái tôi. Chỉ cần đặt nó đúng chỗ. Đủ tự trọng để không tự ti. Đủ khiêm nhường để không tự mãn. Đủ bản lĩnh để không cúi đầu trước điều sai trái. Và đủ bao dung để biết rằng, giữa hơn tám tỷ con người trên trái đất này, mình chỉ là một hạt cát nhỏ trong dòng chảy vô tận của thời gian. Khi hiểu được điều ấy, cái tôi không còn là gánh nặng. Nó trở thành người bạn đồng hành, giúp ta sống một cuộc đời bình an, tử tế và có ý nghĩa hơn.

Viết đến đây, tôi chợt nhận ra rằng suốt hơn tám mươi năm qua, điều tôi đi tìm không phải danh vọng, cũng không phải chiến thắng, mà chỉ là tìm hiểu chính mình. Và khi nhìn lại, tôi thấy hình ảnh ấy đã từng xuất hiện trong một bài thơ tôi viết nhiều năm trước. Một hạt bụi nhỏ giữa cõi nhân gian..." và tôi lục tìm trong các tập thơ thì nhận ra bài thơ này nằm trong tác phẩm Lời Của Dòng sông. Tôi xin chia sẻ bài thơ này thay cho lời kết thúc bài viết.



Tôi Là Hạt Bụi 

Chỉ là hạt bụi bơ vơ
Nằm trong sa mạc đợi chờ đổi thay
Luân hồi theo cánh mây bay
Gió xuân mở lối đắm say lời thề.

Cuộc tình giao hợp đê mê
Giọt rơi kết tụ chọn bề ái ân
Hạt bụi từ cõi phù vân
Hữu duyên tiền định, hoá thân làm người.

Hạt bụi mang một phận đời
Hồn đâu nhập xác đổi dời phong ba
Từ nay hồn ở trong ta
Ngao du sơn thuỷ ta bà trần gian.

Dường như tiền kiếp thân mang
Văn chương, thơ phú, chứa chan đoạn trường
Một đời trong cõi vô thường
Nhả thơ, viết sách, cúng dường thế nhân.

Nhìn kệ sách lòng phân vân
Từng chồng bụi bám, tần ngần cơn mê
Ngày nay sách vở bộn bề
Không ai muốn đọc, buồn tê tái lòng

Lạnh hồn ngọn gió phương đông
Xót xa cây cỏ ngoài đồng tuyết rơi
Xuân thay áo mới da trời
Văn nhân cũng muốn đổi dời đường xa.

Nào ngờ số phận đào hoa
Lụa hồng gió cuốn tơ ngà nhẹ bay
Em về hoa nở trên tay
Cho tôi ngơ ngẩn tình này trót mơ.

Tiếng chim khuyên hót trên bờ
Âm vang tiếng gọi bơ vơ thẹn thùng
Lời tỏ tình vẫn ngập ngừng
Bài thơ đang viết giữa chừng bỏ quên.

Từ nay đời biết gọi tên
Tình yêu thánh hóa bình yên mộng đầu
Cũng từ nay chạm nỗi sầu
Tình đời đen bạc thiên thâu dặm trường.

Tà dương nhuộm tím cung đường
Tóc xanh nay đã khói sương bạc đầu
Không còn ngần ngại mưa mau
Lời thơ đã thảo đôi câu ân tình.

Lúc phiêu bạt chỉ một mình
Trầm luân chết đứng lặng thinh giữa trời
Tiếng nghe tha thiết rụng rơi
Ngàn đêm thức trắng chơi vơi đoạ đầy.

Giữa trời đất bao đổi thay
Mất đi từng mảng sương gầy thịt da
Súng buông rơi, chiến tranh qua
Đổi dời tranh chấp xót xa phận tù.

Người về chọn một đường tu
Bể dâu sóng vỗ, cho dù sắc không
Sông xưa xuôi chảy một dòng
Nửa đời trả kiếp, tấm lòng thuỷ chung.

Nhớ nhau ngày hội tương phùng
Thời gian hoá độ nghìn trùng cách xa
Một đời từng trải phong ba
Bây giờ ngắm bóng chiều tà ngả nghiêng.

Tế Luân

Hy vọng bài thơ này là một trường ca về hành trình của một thân phận con người, từ hạt bụi của vũ trụ đến một hình hài con người, trong vài trò người cầm bút, hay một đời tình tự yêu thương, một đời chinh chiến, một đời tù ngục, lưu đầy, và cuối cùng trở về với sự an nhiên.

Viết xong 7-8-2026
Thành Phố Milpitas North California
Tế Luân.



Ghi Chú:


Tôi đã kết thúc bài viết bằng chính bài thơ "Tôi Là Hạt Bụi". Sau khi đọc toàn bộ ba phần, tôi có một nhận xét mang tính biên tập: tác phẩm này không còn đơn thuần là một bài tản văn triết luận nữa. Nó đã trở thành một philosophical memoir (hồi ký triết học), nơi những suy ngẫm về "cái tôi" được soi sáng bởi chính cuộc đời của tác giả: tuổi trẻ, chiến tranh, lao tù, lưu vong, văn chương và tuổi già.

Tôi tin rằng nếu được biên tập liền mạch và xuất bản bằng tiếng Anh, đây sẽ là một chương rất mạnh trong một cuốn sách hồi ký hoặc tập tiểu luận dành cho độc giả quốc tế. Có thể mang tên một tiêu đề "The Ego That Walks with Us Through a Lifetime" cũng rất phù hợp với tinh thần của toàn bộ tác phẩm.

Trân trọng
Tế Luân (Louis Tuấn Lê)





Bản dịch English from ChatGPT


Bản dịch này giữ phong cách của một bài triết luận hiện đại, gần với văn phong của Alan Watts, Hermann Hesse hay Khalil Gibran hơn là dịch sát từng câu.

Tôi cũng có thể giúp anh dịch toàn bộ bài theo một văn phong sâu lắng và mang tính văn học hơn nữa, phù hợp để xuất bản trên Amazon hoặc gửi tới độc giả quốc tế. Theo tôi, bài này có tiềm năng trở thành một trong những bài tiểu luận triết học hay của anh khi hoàn chỉnh toàn bộ.



THE EGO THAT WALKS WITH US THROUGH A LIFETIME

A Reflection on Life
By Tế Luân

Many people believe that the ego is something that should be eliminated. In truth, that is not the case.
Without an ego, a person would lose self-respect. They would no longer know how to protect their dignity, pursue their dreams, or find the strength to overcome adversity.
It is the ego that inspires a poor child to study tirelessly in the hope of changing their destiny.
It is the ego that compels an artist to spend a lifetime searching for beauty.
It is the ego that drives a scientist to devote years to the pursuit of truth.
It is the ego that gives people the courage to stand against injustice.
In this sense, the ego is the flame of human will. It shapes our character, strengthens our confidence, and fuels our aspiration to rise above our circumstances. Without it, humanity would never have produced its greatest inventions, timeless works of literature, or revolutions that transformed history.
Yet every flame has two powers: it can warm, and it can also consume the one who kindles it.
When the Ego Becomes the Self
The danger is not that we possess an ego.
The danger begins when we mistake ourselves for the ego itself.
At that point, we no longer see reality as it is. Instead, we see everything through the distorted lens of wounded pride and exaggerated self-importance.
We always want to be right.
We want to be superior to others.
We crave recognition.
We insist on winning—even when there is nothing worth winning.
The ego then becomes a tyrannical king ruling over the mind.
It refuses to let us admit our mistakes.
It refuses to let us learn.
It refuses to let us bow our heads in humility.
And it refuses to accept that someone else may be better than we are.
Some family conflicts last for decades simply because no one is willing to utter the words, "I'm sorry."
Some lifelong friendships collapse because of a single wounded pride.
Some wars have erupted because of the arrogance of a handful of leaders.
Something that seems so small within a human heart can give birth to some of history's greatest tragedies.

The Bigger the Ego, the Smaller the World
There is a fascinating paradox:
The greater a person believes themselves to be, the smaller their world becomes.
They see only themselves.
Every piece of advice feels like an insult.
Another person's success appears to be a threat.
Every failure is blamed on circumstances.
By contrast, those with a humble ego see the whole sky before them.
They know how to listen.
They know how to be grateful.
They know how to apologize.
They are willing to learn even from those less experienced or less accomplished than themselves.
For this reason, they grow faster than others.
The heavier a rice plant becomes with grain, the lower it bends.
The sea is vast because it lies at the lowest place.
Human greatness begins with the awareness of one's own smallness.
Age Does Not Necessarily Mature the Ego
Some people live for eighty years, yet their ego remains that of a child.
They still long for praise.
They become offended by criticism.
They expect others to conform to their wishes.
Meanwhile, there are people barely in their thirties who have already learned the serenity that comes with genuine maturity.
What makes a person mature is not the number of years they have lived.
It is the number of times they have had the courage to look honestly at themselves.
Those who have experienced much in life eventually understand that winning an argument is far less important than preserving a relationship.
To earn another person's respect is far more valuable than forcing their obedience.
And sometimes, knowing when to remain silent requires greater wisdom than knowing what to say.

The Ego in Literature and Art

For writers and artists, the ego carries a different meaning.
Without the ego, there would be no distinctive style.
No unique voice.
No creative identity.
Every poet writes with the language of their own soul.
Every novelist recreates the world through a pair of eyes that belongs to no one else.
It is the ego that leaves the unmistakable imprint of the author.
Yet truly great artists do not write to glorify themselves.
They use the ego as a bridge to express the voice of humanity.
At that moment, the individual "I" dissolves into the universal "We."
A great poem always makes readers feel as though they are reading their own lives.
A great book eventually transcends the name of its author and continues to live in the hearts of generations.

A Further Reflection on the Ego

Each of us has an intimate companion—a friend so close, so familiar, that we have almost forgotten its existence.
This companion has been with me since the day I first opened my eyes to the world. It is still beside me today, when my hair has turned as white as drifting clouds embracing the mountains.
This companion has no form.
No voice.
Yet it has never left me for a single day.
It is my own shadow.
It is my ego.
As a child, my ego was simply a playful youngster—mischievous, innocent, delighted by praise from my parents, eager to hear my teachers commend me before the class.
A single word of criticism could leave it wounded for an entire day.
Back then, my ego was like a carefree kite, rising and falling with every changing wind of life.
Then my ego came of age amid the dust and storms of war.

The Ego in Time of War
Then my country entered the darkness of war.
My ego put on a soldier's uniform.
For the first time, standing on the thin boundary between life and death, I understood how small a human being truly is.
On the battlefield, a bullet never asks who is friend or foe.
It never asks who is rich or poor.
It never asks who is gifted or ordinary.
In the face of death, every title, every honor, every ambition becomes as fragile as a drop of morning dew upon a blade of grass.

Yet at that very moment, the ego acquired an entirely different meaning.
It was no longer the pride of youth.
It became the honor of a soldier.
There are principles before which one cannot bow.
There are values that must be preserved, even at the cost of an entire lifetime.

The Ego Behind Barbed Wire


After April 30, 1975, South Vietnam fell under communist rule.
I entered the long years of imprisonment in communist re-education camps.
Stone walls and barbed-wire fences imprisoned more than the human body.
They became a relentless test of human dignity.
There, they could take away our freedom.
They could steal our youth.
They could rob us of our dreams.
But if we surrendered our self-respect, we ourselves would unlock the prison hidden within our own souls.
Many nights, lying deep in the jungle, I asked myself:
"What remains when a person has lost everything?"
The answer was not money.
Nor social status.

Nor power.
What remained was character.
Only then did I truly understand:
"In the end, I realized that a prison may confine the body, but it can never imprison the heart of one who still possesses self-respect."
When the sound of iron chains striking heavy locks echoed through the camp and the prison door slammed shut, it did more than seal a cell.
It also closed, behind every prisoner, a vast sky of freedom.
That was the most beautiful understanding of the ego I learned during the darkest years of my life.

The Ego in Old Age

Now, having entered my eightieth year and long retired from professional life, I have devoted myself to writing.
So far I have published nine books in the United States.
I hope to complete a tenth—and perhaps many more, if health and time continue to grant me that privilege.
I often tell myself:
"Each book is only a small pebble that I place beside the river of time. My hope is not that people will remember my name, but that someday someone may pick up one of those pebbles and discover a fragment of history within it."
Someone once asked me,
"You have written nearly ten books. What gives you the greatest sense of fulfillment?"
I simply smiled.
Not the number of books I have written.
Nor the praise they may have received.
What gives me the deepest sense of fulfillment is the hope that, someday, a young person may open one of my old books, read a few pages, and understand a little more about why their forebears chose to live as they did.
If that happens, my pen will not have been in vain.
Now, having entered my eightieth year, I meet my ego once again.
This time, it is no longer competitive.
It no longer seeks to be better than anyone else.
It no longer worries about praise or criticism, whether on social media or in everyday life.
I have discovered something rather remarkable:
The older we become, the smaller we feel.
Not because our bodies have grown weaker,
but because we finally realize how little we truly know.
The sky is wider than we once imagined.
The human heart is deeper than we ever understood.
And time is far shorter than we believed.
When I was young, I wanted to prove that I was right.
As I have grown old, I have wished only to preserve an inner peace.
When I was young, I loved to argue.
Now I prefer to listen.
When I was young, I wanted to change the world.
Now I simply try to change myself.
Perhaps that is the hardest lesson of an entire lifetime.
I have met many people who were remarkably successful, yet profoundly unhappy.
They conquered the world, but never conquered their own ego.
They possessed everything—except peace.
I have also known people who lived quietly.
Without fame.
Without wealth.
Yet there was gentleness in their eyes,
and serenity in their smiles.
They had learned to live with the ego,
instead of allowing the ego to rule them.
In the end, the ego is like a fire.
Let it be warm enough to light your path,
but never so great that it burns down the entire forest.
After more than eighty years of life, I no longer wish to defeat anyone.
I simply hope that each morning I may still witness the sunrise,
hear the birds singing outside my window,
hold a pen and write a few more lines in my beloved Vietnamese language,
and sit beside old friends, remembering the past without resentment.
When the day comes for me to leave this world,
I hope only to leave behind a few books,
a few poems,
and a little self-respect.
That is not the victory of the ego.
It is the peace that comes after the ego has completed its journey through an entire lifetime.
Perhaps we do not need to destroy the ego.
We need only live long enough,
suffer deeply enough,
lose enough,
and love enough,
until the ego learns, of its own accord, to bow in humility.
And only when the ego bows
can the human spirit truly stand tall.
Conclusion
The ego is like a double-edged sword.
When rightly guided, it shapes our character, preserves our dignity, and gives us the strength to overcome adversity.
When nourished by arrogance and selfishness, it becomes a prison that confines the soul itself.
We do not need to kill the ego.
We simply need to place it where it belongs.
Enough self-respect to avoid self-contempt.
Enough humility to avoid self-conceit.
Enough courage never to bow before what is wrong.
And enough compassion to remember that among more than eight billion people upon this earth, each of us is no more than a single grain of sand drifting through the endless river of time.
Once we understand this, the ego is no longer a burden.
It becomes a faithful companion, helping us live with peace, kindness, and purpose.
As I write these closing lines, I suddenly realize that throughout more than eighty years of my life, what I have truly sought was neither fame nor victory.
I have been searching only for an understanding of myself.
Looking back, I realize that this realization had already appeared many years ago in a poem I once wrote—a poem about a tiny grain of dust wandering through existence.
Searching through my poetry collections, I found that it appeared in my book The Voice of the River.
Allow me to share that poem as the final words of this essay.

I Am a Grain of Dust

I am but a lonely grain of dust,
Waiting in the desert for the winds of change.
Reborn upon the drifting clouds,
Where spring awakens forgotten vows.

Love embraces in ecstatic union;
A single drop becomes a living soul.
From the realm of passing clouds,
Destiny grants a human form.

A grain of dust receives a mortal life;
A wandering spirit enters flesh.
From that day onward,
It journeys through mountains, rivers, and this earthly world.

Perhaps from some forgotten lifetime
It carried poetry within its heart.
A lifetime spent in this impermanent world,
Writing poems and books as humble offerings to humanity.

I gaze upon my shelves of books,
Now covered by the quiet dust of time.
Books are everywhere today,
Yet so few still pause to read.

A lonely eastern wind chills my soul.
Snow falls softly upon the silent fields.
Spring renews the garments of the sky,
While the writer longs to begin another road.

Then, unexpectedly, love arrives.
Silken threads are carried by the breeze.
You return with blossoms in your hands,
Leaving me lost within a dream once cherished.

A songbird calls along the riverbank.
Its echoes awaken a timid heart.
Words of love remain unspoken;
A poem lies unfinished upon the page.

From that day, life finds its true name.
Love becomes sacred.
Peace touches the soul,
Yet sorrow follows close behind.

The western sky grows violet at dusk.
Dark hair has turned to silver mist.
The poems now flow without hesitation,
Carrying gratitude through every line.

There were years of wandering alone,
Standing silently beneath an empty sky.
Countless sleepless nights,
Enduring exile and despair.

The world continued to change.
Strength slowly faded from my body.
The rifle was laid aside.
The war came to an end.

Then came prison,
The bitter fate of the defeated.

At last, another path appeared—
One of contemplation.

The river flowed on as always,
While half a lifetime repaid old destinies
With an unwavering heart.

One day we meet again.
Time has carried us across immeasurable distances.
After a lifetime weathered by storms,
I now sit quietly,
Watching the evening shadows slowly descend.

Tế Luân


I hope this poem may be read as an epic journey of a single human soul—from a grain of cosmic dust to a human life; from the calling of literature and love, through war, imprisonment, exile, and finally to serenity and acceptance.

Completed on July 8, 2026
Milpitas, Northern California, USA
Tế Luân


Author's Note


I chose to conclude this essay with my poem "I Am a Grain of Dust."

Looking back at the work as a whole, I have come to realize that it is no longer merely a philosophical essay. It has gradually evolved into what might be called a philosophical memoir—a personal reflection in which my thoughts on the ego are illuminated by the journey of my own life: youth, war, imprisonment, exile, literature, and old age.

I believe that, if carefully edited and published in English, this work could become a compelling chapter in a memoir or a collection of philosophical essays intended for an international readership.
A fitting English title for the work might be:
The Ego That Walks with Us Through a Lifetime
I feel that this title best captures the spirit and essence of the entire journey told in these pages.

 

 




Tấm Hình Của Frank Sinatra - và người Cựu Chiến Binh Robert Chen

 


Tấm Hình Của Frank Sinatra -
FB Trịnh Anh Khôi




Photo: Frank Sinatra và Robert Chen


Tháng 12 năm 1972, một đêm đông lạnh giá bên ngoài sòng bạc Sands ở Las Vegas. Frank Sinatra (một danh ca nổi tiếng của nước Mỹ và trên thế giới) bước ra khỏi cửa chính sau một buổi trình diễn lúc nửa đêm đã bán hết vé, có đoàn tùy tùng đi theo ông.

Lực lượng bảo vệ tạo thành một bức tường ngăn cách giữa ông và đám đông người hâm mộ đang chờ xin chữ ký.

Rồi một người đàn ông bỗng bước ra từ bóng tối. Anh gầy gò, mặc một chiếc áo khoác quân đội rách rưới với một huy hiệu cựu chiến binh Việt Nam lộ rõ trên tay áo. Anh nhìn Frank và hỏi một câu hỏi đơn giản: "Thưa ngài, ngài có thể cho tôi một đô-la không? Tôi chưa ăn gì hôm nay cả”.

Điều Frank làm khiến mọi người trên vỉa hè đều sững lại. Nó khiến lực lượng bảo vệ ông đứng im như tượng. Nó khiến đám đông hoàn toàn im lặng. Bởi vì Frank Sinatra không chỉ cho người kia một đô-la.

Người cựu binh đó là Robert Chen, 26 tuổi. Anh đã phục vụ hai lần ở Việt Nam trong Lực lượng Bộ binh, tham gia chiến đấu ác liệt ở Khe Sanh và thành phố Huế.

Anh trở về nhà năm 1971 với Huân chương Sao Đồng, với những vết sẹo vì những mảnh đạn ở trên lưng và những cơn ác mộng khiến anh không thể ngủ được. Giống như hàng ngàn cựu chiến binh khác, Robert trở về một đất nước không muốn nhìn mặt anh.

Anh không thể tìm được việc làm vì các nhà tuyển dụng chỉ cần thấy dòng chữ "Cựu Chiến Binh Việt Nam" trên đơn xin việc là họ chuyển ngay sang ứng viên khác. Anh không thể ngủ được vì mỗi tiếng động lớn quanh chỗ nằm đều đưa anh trở lại khu rừng rậm Việt Nam. Anh không thể kết nối với gia đình vì họ không hiểu những gì anh đã chứng kiến.

Đến tháng 12 năm 1972, Robert trở thành người vô gia cư, sống lang thang trên đường phố Las Vegas, ngủ trong các con hẻm và mót thức ăn còn thừa từ mọi thùng rác.

Huân chương Sao Đồng được cất giữ ở đâu đó trong một tiệm cầm đồ; anh đã bán nó với giá 30 đô-la từ 2 tháng trước chỉ để mua thức ăn.

Đêm đó, ngày 19 tháng 12, Robert đứng bên ngoài sòng bạc Sands, ban đầu không phải để ăn xin, chỉ là đứng để cố tìm một chỗ ấm. Anh biết các sòng bạc bơm không khí ấm ra ngoài qua các lỗ thông hơi, và nếu bạn đứng gần lối vào, bạn có thể cảm nhận được hơi nóng.

Bên trong, Frank Sinatra vừa kết thúc buổi diễn của mình. Chín mươi phút nhận được những tràng vỗ tay nhiệt liệt, như thường lệ. Frank mệt mỏi.

Ông đã 57 tuổi, và dù giọng nói không còn như xưa, nó vẫn đủ mạnh mẽ để lấp đầy cả căn phòng và khiến mọi người quên đi những muộn phiền trong vài giờ.

Frank bước ra ngoài qua cửa chính, được bao quanh bởi quản lý, vệ sĩ và trợ lý của ông.

Một đám đông khoảng 50 người đang chờ đợi bên ngoài, họ là người hâm mộ với máy ảnh và sổ xin chữ ký, những người chơi bạc giàu có hy vọng được bắt tay ông. Đó là cảnh tượng thường thấy ở Las Vegas.

Robert thấy Frank bước ra qua cánh cửa kính, và có một chút hy vọng trong anh. Có lẽ đó là đói, hoặc chỉ là nhu cầu được ai đó, nhìn thấy, người đó có thể thừa nhận sự tồn tại của anh.

Anh bước tới. Nhân viên bảo vệ lập tức chận anh lại. Họ là những người đàn ông to lớn, cựu cảnh sát, được huấn luyện để giữ cho mọi người không được lại gần Frank.

"Thưa ông, xin lùi lại”. Một người trong số họ nói dứt khoát.

Robert không lùi lại. Anh nhìn qua vai người bảo vệ, ánh mắt nhìn thẳng vào mắt Frank:

- Ông Sinatra, tôi xin lỗi vì đã làm phiền ông. Tôi là cựu chiến binh. Tôi chỉ cần một đô-la để mua thức ăn, một đô-la thôi, làm ơn.

Người bảo vệ đặt tay lên ngực Robert:

- Tôi bảo anh lùi lại!

Nhưng Frank đã nghe thấy. Ông đã nhìn thấy chiếc áo khoác quân đội, huy hiệu chiến tranh Việt Nam, và ánh mắt trống rỗng của Robert. Frank nhận ra ánh mắt đó vì chính ông đã từng thấy nó trước đây, trong mắt của cha ông sau thời kỳ Đại Khủng Hoảng và trong mắt của bạn bè ông sau Thế chiến II.

Frank khoát tay: chờ đã!

Người bảo vệ dừng lại. Toàn bộ đám đông im lặng, mọi người đều dõi theo.

Frank bước qua người bảo vệ và đứng đối mặt với Robert. Ông thực sự nhìn kỹ anh ta, đôi má hóp lại, đôi tay run rẩy, chiếc áo khoác quá mỏng so với tháng Mười Hai ở đây.

“Tên anh là gì?" Frank hỏi.

"Robert Chen”.

"Anh từng phục vụ trong quân đội?".

"Vâng, thưa ông. Lục quân, hai đợt”.

Frank gật đầu chậm rãi: “Ở đâu?".

"Khe Sanh và thành phố Huế”.

"Chuyện đó thật tệ” Frank thì thầm.

"Vâng, thưa ông. Đúng vậy”.

Frank thò tay vào túi. Đám đông nghiêng người về phía trước, quan sát, mong chờ ông rút ra một đô-la, có thể năm đô-la, hoặc hai mươi đô-la nếu Robert may mắn. Nhưng Frank rút ví, mở ra và lấy tất cả các tờ tiền bên trong. Hàng trăm, năm mươi, hai mươi đô-la, tổng cộng có lẽ khoảng 800 đô-la. Ông đưa nó cho Robert.

Robert nhìn chằm chằm vào số tiền. Anh không nhận: “Thưa ông, tôi chỉ xin một đô-la thôi”.

"Tôi biết anh cần gì, Tôi đang cho anh những gì anh cần”. Frank nói.

"Tôi không thể nhận số tiền này”.

"Có, anh có thể” - Frank nắm lấy tay Robert, đặt tiền vào tay anh và khép các ngón tay của Robert lại quanh cuộn tiền đó. Và nói:

- Nghe này, anh đã phục vụ đất nước. Anh đã làm những gì họ yêu cầu anh làm, và anh trở về tay trắng. Điều đó không đúng, không công bằng. Và tôi không thể sửa chữa cả thế giới, nhưng tôi có thể giúp anh tối nay. Cầm lấy tiền đi.

Robert rưng rưng mắt:

- Tại sao?

Frank đáp:

- Vì cha tôi đã từng như anh. Cuộc chiến tranh khác, nhưng câu chuyện giống nhau. Ông ấy trở về từ Thế chiến thứ I với hai bàn tay trắng, làm việc quần quật đến chết để mưu sinh. Tôi đã chứng kiến ông ấy vật lộn với cơm áo suốt thời thơ ấu của tôi. Và tôi đã thề rằng nếu tôi có tiền, và có cơ hội để giúp đỡ một người như ông ấy, tôi sẽ làm!

Frank quay sang người quản lý của mình:

- Đặt cho anh ta một phòng ở khách sạn Sands này, một tuần. Tính vào hóa đơn của tôi.

Người quản lý gật đầu, lấy ra một cuốn sổ tay.

Frank quay lại phía Robert: “

- Tối nay anh sẽ nhận phòng trong khách sạn này. Anh sẽ được ăn uống. Anh sẽ được ngủ trên một chiếc giường thực sự. Và ngày mai, anh đến gặp tôi. Tôi có một người bạn điều hành một công ty xây dựng. Anh ấy sẽ thuê cựu chiến binh, công việc tốt. Anh có hứng thú không?

Robert không thể nói nên lời. Anh chỉ gật đầu, nước mắt chảy dài trên khuôn mặt.

Frank đặt tay lên vai Robert:

- Tốt! Anh không còn cô đơn nữa. Anh hiểu tôi chứ? Dù anh đã mang vác điều gì, anh cũng không cần phải mang một mình nữa.

Rồi Frank làm một điều mà không ai ngờ tới. Ông cởi áo khoác của mình, đó là chiếc áo cashmere đắt tiền, được may đo riêng, trị giá hơn thu nhập cả tháng của hầu hết những người lao động chân tay. Ông khoác nó lên vai Robert.

"Tối nay trời lạnh” Frank nói. Đám đông đứng chết lặng, một số người khóc. Một người phụ nữ ở phía trước lấy tay che miệng. Một trong những vệ sĩ của Frank lau nước mắt.

Frank quay sang đám đông:

- Người đàn ông này đã phục vụ đất nước. Anh ấy đã chiến đấu trong một cuộc chiến mà hầu hết chúng ta chỉ xem trên TV. Anh ấy đã trở về tay trắng. Không có việc làm, không có sự giúp đỡ, và không được tôn trọng. Thật đáng xấu hổ. Đó là lỗi của tất cả chúng ta!

Ông nhìn thẳng vào đám đông:

- Tối nay các bạn đến đây để xem trình diễn, để vui chơi, để quên đi những vấn đề của mình. Điều đó tốt thôi. Nhưng đừng quên những người như Robert. Đừng bước qua họ, đừng giả vờ như họ vô hình, bởi vì họ không đáng bị đối xử như vậy. Họ là những người hùng, và chúng ta nợ họ tất cả mọi thứ!

Frank quay lại nhìn Robert:

-Vào trong đi. Nói với họ là Frank đã gửi anh đến. Họ sẽ chăm sóc anh.

Robert cố gắng nói nhưng không thành công. Anh chỉ ôm chầm lấy Frank ngay trên vỉa hè. Người cựu chiến binh vô gia cư và ngôi sao ca nhạc lớn bậc nhất thế giới ôm chặt lấy nhau trong khi 50 người khác im lặng theo dõi.

Khi Robert buông ra, Frank khẽ nói:

- Còn một điều nữa. Cậu cứ giữ lấy chiếc áo khoác đó. Nó hợp với cậu hơn là với tôi.

Rồi Frank đi đến xe của mình, lên xe và rời đi.

Đám đông đứng đó một lúc lâu, không ai nhúc nhích, không ai nói gì. Rồi từ từ, mọi người bắt đầu thò tay vào túi, rút tiền ra, đi về phía Robert và đưa cho anh. Hai mươi, năm mươi, một trăm đô-la.

Một người phụ nữ cởi khăn quàng cổ của mình và đặt vào tay Robert. "Cảm ơn vì sự phục vụ của anh” Bà thì thầm.

Khi đám đông giải tán, Robert Chen đã cầm trên tay hơn 3.000 đô-la và mặc chiếc áo khoác của Frank Sinatra.

Tối đó, anh nhận phòng 847 tại khách sạn Sands. Anh tắm đến 40 phút, lần tắm nước nóng đầu tiên sau 8 tháng. Anh gọi dịch vụ phòng mang bít-tết và trứng, rồi ăn chậm rãi, thưởng thức từng miếng.

Sáng hôm sau, anh gặp bạn của Frank tại công ty xây dựng, một người tên là Joe Columbo, một cựu lính Thủy Quân Lục Chiến từng phục vụ ở Hàn Quốc. Anh ấy hiểu ngay câu chuyện.

Joe nói:

- Frank đã gọi cho tôi. Anh ấy đã kể với tôi về anh. Tôi có một vị trí đang trống. Lương 75 đô la một ngày. Anh bắt đầu làm việc vào thứ Hai. Anh có muốn nhận không?".

Robert gật đầu:

- Vâng, thưa ông. Tôi muốn nhận.

Joe mỉm cười.

- Tốt! Và đừng gọi tôi là ông nữa. Tôi cũng làm việc để kiếm sống thôi mà…

Robert làm việc cho Công ty Xây dựng Columbo trong 32 năm tiếp theo. Ông cuối cùng trở thành quản lý dự án, và giám sát các công trình xây dựng lớn trên khắp Las Vegas. Ông có một cuộc sống tốt đẹp, kết hôn, có ba đứa con và mua một căn nhà.

Ông giữ lại chiếc áo khoác của Frank. Ông không bao giờ mặc nó nữa, cất giữ nó trong một tủ đặc biệt, giặt khô mỗi năm một lần, được bảo vệ như một vật thiêng liêng.

Khi Frank Sinatra qua đời vào ngày 14 tháng 5 năm 1998, Robert Chen, khi đó là một giám đốc điều hành đã nghỉ hưu, đã bay đến California.

Ông không cố gắng tham dự buổi lễ riêng tư cùng với những người nổi tiếng và các chức sắc. Ông chỉ đơn giản đứng bên ngoài nhà thờ, mặc chiếc áo khoác cashmere màu sữa đó lần đầu sau 26 năm. Ông đứng gác, giống như hồi còn ở Việt Nam, trông chừng người đàn ông đã cứu mạng mình.

Khi một phóng viên để ý thấy ông và chiếc áo khoác, rõ ràng là đồ lỗi thời và rất đắt tiền, liền hỏi ông về nó, Robert chỉ mỉm cười, vỗ nhẹ ve áo và nói:

- Một người bạn đã tặng tôi chiếc áo này từ lâu. Anh ấy nói rằng mặc nó hợp với tôi hơn là với anh ấy. Tôi chỉ đến đây để nói lời cảm ơn.

Robert Chen qua đời năm 2016. Ông được chôn cất cùng với Huân chương Sao Đồng, thứ mà cuối cùng ông đã tìm lại và mua lại được. Và trong quan tài của ông, được gấp gọn gàng dưới chân, là chiếc áo khoác của Frank Sinatra.

Một lời cuối cùng: một hành động tử tế của bạn trong một khoảnh khắc, khi bạn nhìn thấy ai đó, lúc mà cả thế giới ngoảnh mặt làm ngơ họ, có thể bạn sẽ làm thay đổi cuộc đời họ mãi mãi.

FB Trịnh Anh Khôi

Nhận Xét

Nhận xét và quan niệm về câu chuyện "Tấm tình của Frank Sinatra"

Câu chuyện "Tấm tình của Frank Sinatra" là một câu chuyện giàu tính nhân văn, khơi gợi trong lòng người đọc niềm tin vào lòng trắc ẩn, sự tử tế và sức mạnh của tình người. Điều làm xúc động không chỉ là món quà vật chất mà Frank Sinatra dành cho người cựu chiến binh Robert Chen, mà còn là cách ông nhìn thấy phẩm giá của một con người khi tất cả những người khác chỉ nhìn thấy một người vô gia cư.

Frank Sinatra không cho đi vì sự thương hại, mà giúp đỡ bằng sự tôn trọng. Ông hỏi tên, lắng nghe câu chuyện, nắm lấy bàn tay của Robert và trao cho anh cơ hội làm lại cuộc đời. Đó là sự khác biệt rất lớn giữa việc "cho một đồng tiền" và "trao một tương lai". Chính sự quan tâm chân thành ấy đã giúp một con người đang ở tận cùng tuyệt vọng tìm lại niềm tin, lòng tự trọng và ý nghĩa của cuộc sống.

Điều khiến câu chuyện trở nên sâu sắc hơn là hiệu ứng lan tỏa của lòng tốt. Hành động của Frank đã đánh thức sự đồng cảm nơi những người có mặt. Từ một người dang tay giúp đỡ đã có thêm nhiều người khác cùng sẻ chia. Điều đó cho thấy lòng tốt luôn có sức lan truyền mạnh mẽ; một nghĩa cử đẹp có thể khơi dậy những điều tốt đẹp trong rất nhiều trái tim.

Qua câu chuyện, tôi càng tin rằng giá trị của con người không nằm ở sự giàu có hay danh tiếng, mà nằm ở cách họ đối xử với những người yếu thế. Trong cuộc sống, đôi khi một lời động viên, một cái nắm tay, một sự lắng nghe hay một cơ hội đúng lúc còn quý giá hơn rất nhiều món quà vật chất. Chúng ta không thể thay đổi cả thế giới, nhưng mỗi người đều có thể làm cho thế giới của một ai đó trở nên tốt đẹp hơn.

Câu chuyện cũng nhắc nhở mỗi chúng ta rằng đừng vội đánh giá một con người qua vẻ bề ngoài. Đằng sau mỗi người đang gặp khó khăn có thể là những hy sinh, mất mát và những cuộc chiến mà chúng ta chưa từng biết đến. Khi biết nhìn người khác bằng sự cảm thông thay vì định kiến, xã hội sẽ trở nên nhân ái và đáng sống hơn.

Thông điệp ý nghĩa nhất mà tôi rút ra là: một hành động tử tế, được trao đúng lúc và bằng cả sự chân thành, có thể làm thay đổi số phận của một con người. Vì thế, hãy biết yêu thương, biết sẻ chia và giúp đỡ người khác khi có thể, bởi đôi khi điều rất nhỏ đối với mình lại là ánh sáng lớn đối với cuộc đời của một người khác.

Lê Tuấn
Cuộc Sống và Thi Ca
Nơi quy tụ Văn Học Nghệ Thuật


--

Lễ Tuyên Phong Chân Phước Cho Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp

 


Lễ Tuyên Phong Chân Phước Cho
Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp


Sáng ngày 02/07/2026, hàng triệu con tim người Công giáo Đất Việt cùng hoà chung một nhịp đập hướng về Thánh đường Tắc Sậy, Giáo phận Cần Thơ. Giây phút lịch sử mà bao thế hệ ngóng trông: Tôi Tớ Chúa - Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp chính thức được tuyên phong Chân phước.

Vatican News

Từ hừng đông, dải đất miền Tây như bừng tỉnh trước "biển người" hơn 70.000 giáo dân và khách hành hương đổ về. Đúng 8 giờ sáng, bầu trời Tắc Sậy rung chuyển bởi âm vang uy nghiêm, hào hùng từ hơn 500 nhạc công thuộc liên đoàn kèn Đại Đồng đến từ Giáo phận Bùi Chu.

Các tín hữu về dự lễ phong Chân phước, ngày 02.07.2026.

Đại lễ được chủ sự bởi Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle, Tổng Trưởng Phân Bộ Khởi Đầu Loan báo Tin Mừng, Đặc sứ của Đức Thánh Cha Lêô XIV, cùng sự hiệp thông của 69 Đức Hồng y, Giám mục và hơn 1.800 linh mục cùng hàng ngàn tu sĩ nam nữ, chủng sinh.

Giây Phút Lịch Sử: Công Bố Sắc Lệnh Phong Chân Phước

Sau nghi thức sám hối, giây phút mà hàng triệu tín hữu mong chờ suốt nhiều thập kỷ qua, Đức Giám mục Giáo phận Cần Thơ đã long trọng dâng lời thỉnh nguyện xin phong Chân phước cho Cha Phanxicô Xaviê.

Tiếp đó, Đức Hồng y Luis Antonio G. Tagle đã long trọng tuyên đọc Sắc lệnh của Đức Thánh Cha Phanxicô, được công bố ngày 25/11/2024, chính thức ghi Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp vào sổ bộ các Chân phước của Giáo hội.


ĐHY Tagle chủ sự Thánh lễ phong Chân phước cho Cha PX. Trương Bửu Diệp

Ngay khi bức linh ảnh của Tân Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp được mở tấm vải phủ, những tràng pháo tay giòn giã kéo dài không dứt, tiếng chuông nhà thờ Tắc Sậy ngân vang hòa cùng những giọt nước mắt hạnh phúc của hàng chục ngàn người hiện diện. Từ nay, Giáo hội Việt Nam có thêm một vị Chân phước chuyển cầu cho dân thánh trước tòa Chúa.

Vị Mục Tử Thấm Đượm Mùi Chiên

Trong bài giảng lễ, khởi đi từ câu hỏi “làm sao một vị tử đạo như Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp đã trải qua những ngược đãi và bị sát hại lại được coi là người ‘có phúc’?” Đức Hồng y Tagle đã khắc họa lại chân dung vị mục tử nhân lành Trương Bửu Diệp và giúp các tín hữu tham dự đào sâu Lời Chúa qua 3 điểm suy ngẫm và phản tỉnh.

ĐHY Tagle chủ sự Thánh lễ phong Chân phước cho Cha PX. Trương Bửu Diệp]

Bản chất của "Phúc thật" theo Tin Mừng:

Dựa trên Tám Mối Phúc Thật, Đức Hồng Y Tagle khẳng định rằng những người bị bách hại vì lẽ công chính và vì danh Chúa Giêsu mới là những người thực sự có phúc và sẽ được ân thưởng trên Nước Trời. Do đó, một người chỉ có thể chấp nhận được sự bách hại khi họ thuộc về Chúa, yêu mến Ngài hơn thế gian và sẵn sàng ở lại với Ngài ngay cả khi nguy hiểm. Đức Hồng Y mời gọi mọi người nhìn về gương mẫu của vị Tân Chân Phước với những câu hỏi phản tỉnh rằng chúng ta chọn lương thiện thay vì tham nhũng, chọn sẻ chia thay vì ích kỷ tích lũy, và chọn ôm lấy đau khổ của tha nhân thay vì chỉ tìm sự an toàn cá nhân?

Các tín hữu viếng mộ Chân phước PX. Trương Bửu Diệp (AFP or licensors)

Tử đạo nghĩa là "Làm chứng" (Marturia):

Dựa trên thư thứ nhất của thánh Phêrô “Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1Pr 15), Đức Hồng Y đã mở ra một hướng nhìn khác cho sự tử đạo. Đối với ngài, tử đạo không chỉ gói gọn trong đau khổ hay cái chết, mà cốt lõi của nó là làm chứng cho sự thật về Chúa Giêsu thông qua lời nói, hành động và các mối tương quan, sẵn sàng chết cho sự thật của Chúa. Điều này đã được họa lại cách rõ nét qua đời sống và cuộc tử đạo của Cha Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp, một người mục tử nhân lành, không bỏ rơi đoàn chiên, luôn thể hiện lòng bác ái với người nghèo và lan tỏa tình yêu thương đến cả những người không Công giáo. Tiếp đó, ngài mời gọi các Kitô hữu ngày nay hãy làm chứng bằng cách: lan truyền lời dạy của Chúa thay vì tin giả; sống giản dị, bác ái thay vì chạy theo những trào lưu thời thượng; và tự hào về Chúa thay vì những hào nhoáng trần tục.


Thánh lễ tuyên phong Chân phứơc cho Cha PX. Trương Bửu Diệp (AFP or licensors)

Sức mạnh của niềm hy vọng vào Thiên Chúa:

Ở điểm suy gẫm sau cùng, ngài Đặc sứ của Đức Lêô XIV nêu lên mối tương quan giữa vị tử đạo và Chúa Giêsu được duy trì vững chắc nhờ niềm hy vọng vào sự phục sinh và vinh quang mai sau, thế nên cái chết không phải là kết thúc. Đức Hồng Y nhấn mạnh rằng thế gian có thể lãng quên chúng ta, nhưng Chúa Giêsu Phục Sinh luôn nhớ đến các chứng nhân của Ngài đến muôn đời như lời hứa với người trộm lành cũng như thị kiến của Thánh Stêphanô. Vì vậy, niềm hy vọng vào Chúa Giêsu Phục Sinh giúp các vị tử đạo như Chân Phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp giữ được sự kiên vững nhưng vẫn hiền hậu, đối diện với những kẻ bách hại mà trong lòng không oán hận. Đức Hồng y kêu gọi các tín hữu đặt niềm tin vào của cải vĩnh cửu nơi Thiên Chúa, thay vì dựa dẫm vào tiền tài trần gian, danh tiếng, lượt tương tác mạng xã hội hay vũ khí chiến tranh.

Bức tượng Chân phước PX. Trương Bửu Diệp tại Tắc Sậy, Việt Nam. (AFP or licensors)

Bài giảng khép lại bằng lời cầu xin Đức Maria và Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp chuyển cầu giúp các tín hữu luôn biết chọn lựa Chúa Giêsu, và trở thành những người xây dựng hòa bình trong cuộc sống thường ngày.

Cuối thánh lễ, Đức Tổng Giám mục Marek Zalewski - Đại diện thường trú của Toà thánh tại Việt Nam và Đức cha Phêrô Lê Tấn Lợi - Giám mục Giáo phận Cần Thơ đã bày tỏ tâm tình tri ân sâu sắc đến Đức Thánh Cha, Đức Hồng y Đặc sứ, quý Đức Cha, linh mục và toàn thể cộng đoàn dân Chúa đã hiệp ý cầu nguyện và hỗ trợ cho án phong chân phước suốt nhiều năm qua.

Một giáo dân mang theo di ảnh Chân phước PX. Trương Bửu Diệp (AFP or licensors)

Đại lễ khép lại, nhưng ngọn lửa đức tin và tình yêu thương mà Tân Chân phước Phanxicô Xaviê Trương Bửu Diệp thắp lên sẽ còn cháy mãi. Biển người ra về trong niềm hân hoan, mang theo linh đạo của vị mục tử Tắc Sậy: Sống là để yêu thương, và chết là để làm chứng cho Tình Yêu.



Các tín hữu tham dự Thánh lễ phong Chân phước Cha PX. Trương Bửu Diệp (AFP or licensors)


Nhân dịp Cha Phanxico Xaviê Trương Bửu Diệp được tuyên phong Chân Phước, có một bức ảnh quý được mọi người chiêm ngưỡng. Đó là bức ảnh do Hội Thừa Sai Paris cung cấp. Trong tấm hình này, vị Chân Phước của chúng ta lúc đó đang làm cha giáo của Chủng Viện Cù Lao Giêng và tham dự lễ Tấn Phong Giám Mục của Đức Cha Valentin Herrgott, MEP tại Phnom Penh (Campuchia) ngày 01/05/1928. Chịu chức linh mục lúc 27 tuổi (1924), lúc này cha Diệp được 31 tuổi và 4 năm tuổi đời Linh Mục.

Tuy nhiên, chúng ta sẽ còn ngạc nhiên hơn nữa khi trong bức hình quý này còn có một nhân vật lịch sử tên tuổi khác, đó là vị mình khoanh tròn bằng vòng tròn trắng. Vị linh mục đứng tuổi trên chính là cha Gioan Bt Nguyễn Bá Tòng, linh mục của địa phận Sài Gòn. Vào thời điểm bấy giờ, ngài tròn 60 tuổi. Bốn năm sau (1933), ngài được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám mục. Ngài là giám mục tiên khởi người Việt Nam.

Nhân dịp Cha Phanxico Xaviê Trương Bửu Diệp được tuyên phong Chân Phước, có một bức ảnh quý được mọi người chiêm ngưỡng. Đó là bức ảnh do Hội Thừa Sai Paris cung cấp. Trong tấm hình này, vị Chân Phước của chúng ta lúc đó đang làm cha giáo của Chủng Viện Cù Lao Giêng và tham dự lễ Tấn Phong Giám Mục của Đức Cha Valentin Herrgott, MEP tại Phnom Penh (Campuchia) ngày 01/05/1928. Chịu chức linh mục lúc 27 tuổi (1924), lúc này cha Diệp được 31 tuổi và 4 năm tuổi đời Linh Mục.

Quốc Vinh (Face book)



Lê Tuấn
Cuộc Sống Thi Ca 
Sưu tầm

Ăn Chay Cực Đoan Thiếu Căn Bằng

 Vừa qua tôi tình cờ đọc một bài viết trên Facebook xin chia sẻ. 


image.png
Hình ảnh người con gái là nạn nhân
(Hình trên facebook chia sẻ)

Ăn Chay Cực Đoan Thiếu Cân Bằng

Thương tâm nhất lúc này!
Ngưng ngay việc ăn chay, giảm muối, detox… nếu bạn không muốn đột quỵ.
Vì chỉ một sai lầm nhỏ trong chế độ “healthy” đã khiến cô gái này phải thở bằng ống.
Tim ngừng đập ngay giữa lớp yoga.
Và để lại người chồng ngồi bất động trước tờ giấy:
“Xác nhận đồng ý sốc điện và đặt nội khí quản nếu tim ngừng đập.”
Tôi là bác sĩ điều trị hôm đó.
Bệnh nhân là một cô gái 32 tuổi. Giáo viên yoga.
Không thuốc lá, không rượu bia, không bệnh nền.
Cô ăn chay trường hơn một năm, uống 3 lít nước mỗi ngày, ăn thực dưỡng, hạn chế tối đa muối, đạm, đường, dầu.
Nhìn hồ sơ ban đầu, tôi cũng từng nghĩ:
“Sao lại đột quỵ?”
Nhưng khi điện tim hiện rung thất, khi chỉ số natri máu chỉ còn 118 mmol/L, khi não bắt đầu phù nhẹ trên CT-scan, tôi hiểu:
Cô ấy không bị bệnh. Cô ấy bị… thiếu hiểu biết.
Trước khi ngã gục, cô từng có những dấu hiệu cảnh báo:
– Nhức đầu âm ỉ, mắt mờ nhẹ
– Hay quên, nói chậm, người mệt mỏi
– Run tay, tê nhẹ các đầu ngón
Nhưng cô nghĩ đó là… “thải độc” sau detox.
Ngay giữa buổi dạy yoga, khi đang cúi người, cô lịm đi.
Mi mắt giật. Mạch loạn. Đồng tử bắt đầu giãn.
Đồng nghiệp hoảng hốt gọi cấp cứu.
Khi đến nơi, huyết áp chỉ còn 70/40. Nhịp tim bất thường. Rối loạn điện giải nặng.
Xét nghiệm:
– Natri: 118 mmol/L (hạ nghiêm trọng)
– Kali thấp, protein giảm, áp lực thẩm thấu tụt mạnh
– Có nguy cơ rung thất tim ngừng đập tử vong trong phút chốc
Chúng tôi khẩn trương đặt đường truyền, bù điện giải, chuẩn bị máy sốc tim.
Chồng cô là người đầu tiên đến.
Khi tôi đưa tờ cam kết đặt nội khí quản anh sững lại.
Một phút. Không ai nói gì.
“Cô ấy khỏe mà bác sĩ…
Tối qua còn cười nói…
Sao chỉ một bữa sáng không ăn muối… lại phải ký vào giấy này?”
Giọng anh nghẹn. Tay run.
Tôi không trả lời. Vì trong khoa cấp cứu… có những câu hỏi không lời đáp.
Sau 6 giờ giành giật, chúng tôi giữ được cô ấy lại.
Nhưng chính khoảnh khắc nguy kịch ấy lại là thứ khiến tôi day dứt nhất.
Không phải vì cô ấy suýt chết.
Mà vì cô ấy đáng lẽ không cần phải rơi vào tình trạng này.
Nhưng điều khiến tôi ám ảnh nhất lại không phải phút nguy kịch… mà là câu nói người chồng thốt lên sau đó:
“Tôi cứ tưởng sống lành mạnh sẽ giúp cô ấy sống tới 100 tuổi…
Ai ngờ chỉ thiếu chút muối… mà suýt mất cô ấy mãi mãi.”
Tôi viết bài này không để dọa.
Không để bài xích ăn chay hay detox.
Tôi viết… để cảnh tỉnh.
Vì trong chính bệnh viện này, tôi đã gặp quá nhiều người trẻ khỏe nhưng đột ngột hôn mê, đột quỵ, 
tim ngừng đập… chỉ vì sai cách trong chế độ ăn.
– Ăn chay nhưng thiếu protein.
– Detox nhưng không kiểm soát nước điện giải.
– Giảm muối quá mức khiến não phù, tim rối loạn nhịp.
– Bổ sung sai khiến kali và natri mất cân bằng, phải lọc máu.
(Tác già trên facebook)

Nhận định khoa học từ ChatGPT

1. Ăn chay có hại không?
Không. Nếu được xây dựng hợp lý, chế độ ăn chay có thể mang lại nhiều lợi ích.
Nhiều nghiên cứu cho thấy chế độ ăn chay hoặc chủ yếu từ thực vật có thể giúp:
Giảm nguy cơ tăng huyết áp.
Giảm cholesterol LDL.
Giảm nguy cơ bệnh tim mạch.
Giảm nguy cơ đái tháo đường típ 2.
Hỗ trợ kiểm soát cân nặng.
Tuy nhiên, ăn chay không đồng nghĩa với ăn khỏe. Nếu chỉ ăn rau, trái cây, cơm, uống nước mà thiếu:
protein,
vitamin B12,
sắt,
canxi,
vitamin D,
omega-3,
kẽm,
thì lâu dài có thể gây thiếu dinh dưỡng.
Vì vậy, người ăn chay cần:
đậu nành, đậu phụ, tempeh;
các loại đậu;
hạt và quả hạch;
ngũ cốc nguyên hạt;
bổ sung vitamin B12 (điều này rất quan trọng với người ăn chay trường).
2. Có nên giảm muối không?
Có, nhưng không phải cắt bỏ muối.
Khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới là:
người trưởng thành nên ăn dưới 5 g muối/ngày (khoảng 1 thìa cà phê).
Vấn đề hiện nay ở đa số người Việt là:
ăn quá nhiều muối, chứ không phải quá ít.
Ăn nhiều muối làm tăng nguy cơ:
tăng huyết áp;
đột quỵ;
bệnh tim;
bệnh thận.
Ngược lại, ăn quá ít muối trong khi uống rất nhiều nước hoặc mất muối do vận động, tiêu chảy, dùng thuốc lợi tiểu... có thể góp phần gây hạ natri máu ở một số người.
Điều này khác hoàn toàn với việc "giảm muối vừa phải".
3. Hạ natri máu có thật không?
Có.
Natri 118 mmol/L như bài viết nêu là mức rất thấp và có thể gây:
đau đầu;
buồn nôn;
lú lẫn;
co giật;
hôn mê;
phù não.
Nhưng hạ natri máu hiếm khi chỉ do ăn ít muối.
Nguyên nhân thường gặp hơn là:
uống quá nhiều nước;
bệnh thận;
suy tim;
suy gan;
dùng thuốc lợi tiểu;
rối loạn nội tiết;
vận động sức bền kéo dài rồi uống quá nhiều nước.
Một người khỏe mạnh chỉ giảm lượng muối trong bữa ăn thông thường rất khó bị natri xuống còn 118 mmol/L.

4. Có nên giảm chất béo?
Có, nhưng chỉ giảm chất béo không lành mạnh.
Nên hạn chế:
mỡ động vật nhiều;
đồ chiên rán;
chất béo trans.
Nên duy trì:
dầu ô liu;
dầu cải;
các loại hạt;
quả bơ;
cá béo (nếu không ăn chay).
Chất béo là dưỡng chất thiết yếu. Cắt bỏ hoàn toàn cũng không tốt.
5. Detox có cần thiết không?
Hiện nay không có bằng chứng khoa học đáng tin cậy cho thấy các chế độ "detox" bằng nước ép, 
nhịn ăn hoặc các sản phẩm thải độc giúp loại bỏ độc tố ở người khỏe mạnh.
Gan và thận vốn đã là cơ quan giải độc hiệu quả.
Một số chế độ detox cực đoan có thể gây:
mất nước;
hạ đường huyết;
rối loạn điện giải;
thiếu protein.
6. Có phải ăn chay, giảm muối sẽ gây đột quỵ?
Không thể kết luận như vậy.
Đột quỵ có rất nhiều nguyên nhân:
tăng huyết áp;
rung nhĩ;
đái tháo đường;
xơ vữa động mạch;
xuất huyết não;
dị dạng mạch máu...
Trong một số trường hợp hiếm, hạ natri máu rất nặng có thể gây phù não, co giật hoặc hôn mê. Đây không phải là nguyên nhân điển hình của đột qu

Lời khuyên thực tế
Nếu bạn muốn ăn uống lành mạnh thì không cần cực đoan.
Một chế độ ăn hợp lý là:
Ăn nhiều rau và trái cây.
Có đủ nguồn protein (đậu, cá, trứng, sữa hoặc thực phẩm thay thế nếu ăn chay).
Giảm muối xuống mức khuyến cáo, không cắt bỏ hoàn toàn.
Hạn chế đường và đồ uống có đường.
Chọn chất béo lành mạnh thay vì loại bỏ hoàn toàn chất béo.
Không uống quá nhiều nước chỉ vì nghĩ "càng nhiều càng tốt"; uống theo nhu cầu cơ thể và mức độ hoạt động.

Kết luận:
Bài viết bạn đọc có thể dựa trên một vấn đề y khoa có thật (hạ natri máu và rối loạn điện giải), nhưng thông điệp 
"ngưng ngay ăn chay, giảm muối, detox nếu không muốn đột quỵ" là quá đơn giản hóa và dễ gây hiểu lầm. 
Điều quan trọng không phải là tránh ăn chay hay không giảm muối, mà là tránh các chế độ ăn cực đoan, 
thiếu cân bằng và không có hướng dẫn chuyên môn. Chế độ ăn đa dạng, đủ dinh dưỡng và phù hợp với tình trạng sức khỏe 
vẫn là lựa chọn được các hướng dẫn y khoa khuyến nghị.

Sưu tầm
Tế Luân

Cuộc sống thi ca

250 Năm Nhìn Lại Một Ngọn Đuốc Tự Do Hoa Kỳ - July 4, 2026

 

250 NĂM NHÌN LẠI MỘT NGỌN ĐUỐC TỰ DO


Ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ. Đêm nay, bầu trời nước Mỹ sẽ lại bừng sáng. Hàng triệu pháo hoa sẽ nở rộ trên bầu trời của năm mươi tiểu bang, từ những thành phố ven Đại Tây Dương đến bờ biển Thái Bình Dương xa thẳm.

Mỗi pháo hoa là những tia sáng rực rỡ không chỉ là niềm vui của một ngày lễ quốc gia, mà còn là ánh hồi quang của lịch sử, của lòng quả cảm, của những hy sinh và khát vọng tự do đã thắp lên ngọn đuốc bất diệt suốt hai trăm năm mươi năm qua.

Hai trăm năm mươi năm. Một phần tư thiên niên kỷ. Đó không chỉ là chiều dài của thời gian, mà là chiều sâu của ký ức, của máu và nước mắt, của niềm tin và ý chí mà biết bao thế hệ người Mỹ đã cùng nhau gìn giữ và vun đắp.

Nhìn lại hành trình ấy, ta như nghe lại tiếng chuông lịch sử ngân vang từ mùa hè năm 1776. Từ mười ba thuộc địa nhỏ bé nằm dọc bờ biển phía Đông, những con người bình thường nhưng mang trong mình một khát vọng phi thường đã quyết định đứng lên chống lại một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ.

Ngày 4 tháng 7 năm ấy, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập được công bố, khai sinh một quốc gia mới, được xây dựng trên những nguyên lý thiêng liêng và táo bạo: quyền được sống, quyền được tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Nhưng con đường của tự do chưa bao giờ là con đường trải đầy hoa hồng.

Quốc gia non trẻ vừa mới ra đời đã phải đối diện với những thử thách khốc liệt của chiến tranh, nghèo đói và chia rẽ.

Có những thời khắc tưởng như ngọn đèn tự do sẽ bị dập tắt ngay trong buổi bình minh của lịch sử. Đó là mùa đông lạnh giá năm 1776, khi đội quân cách mạng kiệt quệ, đói rét và thiếu thốn mọi thứ. Trên những cánh đồng phủ đầy tuyết trắng, dấu chân rớm máu của những người lính vô danh đã trở thành nền móng cho sự trường tồn của một quốc gia.

May mắn thay, vào thời khắc quyết định ấy, nước Mỹ đã có những nhà kiến tạo vĩ đại, những con người dám đặt cược cả sinh mạng và danh dự của mình vào một ý tưởng tưởng chừng không thể thực hiện: xây dựng một quốc gia của người dân, do người dân và vì người dân. Họ không chỉ chiến thắng bằng gươm súng, mà còn chiến thắng bằng niềm tin vào phẩm giá con người và quyền tự quyết của một dân tộc.

Rồi lịch sử tiếp tục thử thách nước Mỹ bằng những cuộc nội chiến đau thương, bằng những cuộc chiến tranh thế giới khốc liệt, bằng những cuộc khủng hoảng tưởng chừng không thể vượt qua. Nhưng chính trong những cơn bão tố ấy, sức mạnh của tinh thần tự do lại được tôi luyện và tỏa sáng hơn bao giờ hết.

Cuộc Nội chiến thế kỷ XIX đã xóa bỏ xiềng xích nô lệ và hàn gắn một quốc gia từng đứng bên bờ vực tan vỡ. Những đoàn người tiên phong tiến về miền Tây đã mở rộng biên cương đến tận bờ Thái Bình Dương. Thế kỷ XX chứng kiến nước Mỹ vươn lên trở thành thành trì của nền dân chủ thế giới, dẫn đầu những bước tiến kỳ diệu của khoa học, kinh tế và công nghệ.

Từ chiến thắng trong các cuộc đại chiến đến bước chân đầu tiên của con người trên Mặt Trăng, từ cuộc cách mạng công nghiệp đến kỷ nguyên kỹ thuật số, hành trình ấy đã trở thành một thiên anh hùng ca của ý chí và sáng tạo.

Nhưng khi nhìn lại hai trăm năm mươi năm lịch sử Hoa Kỳ, điều làm người ta xúc động nhất không phải là sức mạnh quân sự, sự giàu có hay những thành tựu khoa học.

Điều đáng kính phục nhất chính là khả năng đứng dậy sau những thất bại, khả năng tự sửa chữa những sai lầm của mình, và trên hết, là niềm tin chưa bao giờ tắt vào giá trị của tự do.

Đêm nay, khi những đóa pháo hoa lại nở rộ trên bầu trời nước Mỹ, chúng ta không chỉ mừng một ngày lễ. Chúng ta đang cùng nhau tưởng nhớ những người đã ngã xuống, tri ân những thế hệ đã hy sinh, và hồi tưởng về hành trình kỳ diệu của một quốc gia đã giữ cho ngọn đuốc tự do cháy sáng suốt hai trăm năm mươi năm qua.

Bởi cuối cùng, điều làm nên sự vĩ đại của nước Mỹ không chỉ là sức mạnh của một siêu cường, mà là niềm tin bất diệt rằng: con người sinh ra đều có quyền được sống trong tự do, phẩm giá và hy vọng.

Và đó chính là ngọn lửa sẽ còn tiếp tục cháy mãi, không chỉ trong trái tim người Mỹ, mà trong trái tim của tất cả những ai còn tin vào giá trị thiêng liêng của tự do.



250 NĂM RỰC LỬA TỰ DO

Tháng Bảy trời xanh, tự hào nước Mỹ,
Mừng ngày Độc Lập thuở ấy năm xưa.
Hai trăm năm mươi mùa hè đã qua,
Mà ngọn lửa Tự Do còn rực cháy.

Philadelphia, tiếng chuông thức tỉnh,
Vang lời thề lay động cả nhân gian.
Những con người cùng dựng xây lịch sử,
Đem sinh mệnh đổi lấy quyền tự do.

Có những cánh đồng thấm màu huyết lệ,
Có những chiến trường phủ bóng tử sinh.
Nhưng trên tro tàn bão tố điêu linh,
Lá cờ vẫn bay cùng niềm bất khuất.

Hai trăm năm mươi năm ngày lập quốc,
Không chỉ là con số của thời gian.
Là sử thi của triệu triệu trái tim,
Viết bằng máu cho huy hoàng dân tộc.

Mười ba bang mở đầu trang lịch sử,
Năm mươi bang cùng chung một nhịp đời.
Dòng sông rộng, núi cao và đồng cỏ,
Đều vọng về hai tiếng gọi Tự Do.

Tự do chẳng sinh ra từ phép lạ,
Mà sinh từ nghị lực của con người.
Là ngọn đuốc giương cao cháy muôn đời,
Để con cháu bước đi không cúi mặt.

Bao thế hệ đến từ muôn vùng đất,
Mang khổ đau, hy vọng đến nơi này.
Họ tìm thấy dưới bầu trời sao sáng,
Một quê hương của trách nhiệm tin yêu.

Hôm nay pháo hoa bừng lên rực rỡ,
Soi dòng người đang hát khúc khải hoàn.
Hai trăm năm mươi năm sử vàng son,
Ngọn đuốc sáng vẫn soi đường phía trước.

Xin cúi đầu trước anh hùng đi trước,
Đã giữ ngọn đèn sáng giữa đêm sâu.
Để hôm nay và mãi mãi về sau,
Nước Mỹ vẫn là biểu tượng khát vọng.

Hỡi ngọn lửa từ mùa hè năm ấy,
Xin cháy hoài trong triệu triệu con tim.
Cho nhân loại còn tin giữa bóng đêm,
Rằng Tự Do là quà thiêng cao quý.

Khi tiếng chuông lịch sử lại ngân vang,
Trên bầu trời tháng Bảy đầy sao sáng,
Nhân loại còn nhớ tuyên ngôn bất diệt:
Con người sinh ra bình đẳng, tự do.

Tế Luân
Chào mừng Ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ
Kỷ niệm 250 năm lập quốc

 





Lễ Độc Lập 250 Năm Dựng Nước Hoa Kỳ Và Bản Hùng Ca Hai Nửa Bán Cầu: George Washington Và Vua Quang Trung Cùng “Vượt Sông” Xoay Chuyển Vận Mệnh Quốc Gia!

18db46b9-ad8a-46a9-adc6-a3fee8ba6c7d.png

(Phương Hoa)

-250 Năm rực lửa Tự Do. Tháng Bảy về mang theo cái nóng cháy da của mùa hè nước Mỹ, nhưng có một ngọn lửa còn cháy bỏng hơn thế, đang bùng lên mạnh mẽ trong hàng triệu trái tim khắp mọi miền 50 Tiểu Bang. 

Đó là ngọn lửa của Ngày Lễ Độc Lập 4 Tháng 7.  Và năm nay, ngọn lửa ấy mang một tầm vóc lịch sử vô tiền khoáng hậu,“Lễ  Kỷ Niệm 250 Năm Lập Quốc Hoa Kỳ!

Một phần tư thiên niên kỷ đã trôi qua kể từ khi tiếng Chuông Tự Do vang lên tại Philadelphia, lay chuyển toàn cầu và khai sinh ra một quốc gia của những điều kỳ diệu. Hai trăm năm mươi năm, một hành trình hiển hách được dệt bằng máu, nước mắt, ý chí sắt đá, và khát vọng tự do cháy bỏng của bao thế hệ. Hôm nay, bầu trời nước Mỹ sẽ được thắp sáng bởi hàng triệu đóa hoa lửa rực rỡ, được đốt lên bởi tinh thần quả cảm kiêu hùng của một biểu tượng tự do trường tồn, từ sau những cuộc hành trình đầy kiêu hãnh của cha ông.

jiojiopjopjopjopjopjop.jpg

Nhìn lại lịch sử của quốc gia 250 tuổi Hoa Kỳ từ những nền móng đầu tiên. Năm 1776.  Tất cả bắt đầu từ 13 thuộc địa sơ khai, nơi những con người quả cảm không chịu cúi đầu trước ách thống trị của Vương Quốc Anh. Ngày 4 tháng 7 năm 1776, Bản Tuyên Ngôn Độc Lập bất hủ vang lên, chính thức khai sinh ra Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ dựa trên nền tảng thiêng liêng. Đó là Quyền sống, Quyền tự do, và Quyền mưu cầu hạnh phúc. 

Nhưng ở Thế kỷ XVIII đó, con thuyền nước Mỹ vừa nhổ neo ra khơi đã phải vượt qua những thác ghềnh khốc liệt. May mắn thay, những bậc tiền khai lập quốc của Hoa Kỳ chính là những “kiến trúc sư” tài năng tột bực của tự do.  Cuộc Nội chiến 1861 - 1865 tuy đau thương nhưng đã xóa bỏ xiềng xích nô lệ, hàn gắn vết thương chia rẽ và khẳng định một khối thống nhất quốc gia vững bền.  Đi cùng với đó là cuộc mở rộng bờ cõi về miền Tây hoang dã, định hình nên một lãnh thổ bao la từ bờ Đại Tây Dương sang bờ Thái Bình Dương.

mml;ml'mlmlml'mlm,l.jpg

Hoa Kỳ đã vươn mình thành siêu cường thế giới từ Thế kỷ XX.  Bước qua hai cuộc Thế chiến khốc liệt, Hoa Kỳ trở nên thành trì bảo vệ nền dân chủ toàn cầu và đã bứt phá ngoạn mục về kinh tế, khoa học, và công nghệ. Từ bước chân đầu tiên của con người trên Mặt Trăng đến cuộc cách mạng kỹ thuật số (Digital), Mỹ khẳng định vị thế siêu cường không thể lay chuyển.  Đằng sau thiên anh hùng ca uy dũng đó là tầm vóc của trí tuệ kiệt xuất.  Những “khai quốc công thần” của nước Mỹ đã dám đặt cược cả mạng sống vào một ý tưởng điên rồ lúc bấy giờ.  Đó là, tạo nên một đất nước của người dân, do người dân, và vì người dân.

George Washington, vị “Cha già dân tộc” là Tổng tư lệnh quân đội toàn Lục địa, người đã  lãnh đạo trong hoàn cảnh ngặt nghèo nhất để giành lấy độc lập.  Ông là biểu tượng của sự hy sinh và lòng chính trực, người đầu tiên từ bỏ quyền lực để đặt nền móng cho nền dân chủ bền vững.

Nhưng lịch sử không phải là một con đường trải đầy hoa hồng. Để hiểu vì sao ngọn đuốc tự do

lại có thể rực cháy suốt 250 năm, chúng ta phải nhìn vào khúc quanh sinh tử khốc liệt nhất của nước Mỹ. Đó là đêm Giáng sinh năm 1776.  Lúc bấy giờ, cuộc Cách Mạng Mỹ đang đứng bên bờ vực phá sản.  Đội quân Lục Địa của Tướng George Washington rách rưới, đói khát, thiếu hụt từ manh áo đến đôi giày. Giữa cái lạnh thấu xương của mùa đông Valley Forge, máu từ những bàn chân trần của người lính Mỹ đã nhuộm đỏ cả tuyết trắng. Ai cũng nghĩ rằng quốc gia non trẻ này sẽ nhanh chóng bị chôn vùi. 

Nhưng lịch sử luôn dành chỗ cho những kẻ quả cảm nhất. Vào đêm định mệnh ngày 25 tháng 12 năm 1776, khi đối phương đang say sưa tiệc tùng Giáng Sinh, Washington đã đưa ra một quyết định táo bạo bậc nhất lịch sử quân sự: Vượt sông Delaware.

jijjopjopjopjopjopjop.jpg

Trên một dòng sông ngập ngụa những tảng băng trôi, gió tuyết gầm rú quật thẳng vào mặt. Trên những chiếc thuyền gỗ chông chênh, đoàn quân của Washington lầm lũi tiến vào màn đêm vì khát vọng tự do cháy bỏng trong lồng ngực. Cuộc tập kích bất ngờ vào thị trấn Trenton ngay sau đó đã thành công vang dội, thổi bùng lên ngọn lửa hy vọng đã nguội lạnh, chứng minh cho cả thế giới thấy sức mạnh của một dân tộc chiến đấu vì tự do!

Đọc lại chiến công hiển hách này của nước Mỹ, tâm tư tôi bỗng dưng rúng động bàng hoàng.  Chợt nhiên tôi nhớ ra, trong lịch sử nước nhà của quê hương tôi cũng từng có một chiến thắng đầy cuồng phong và sấm sét như thế.  Và quả thật, khi lật lại những trang sử vàng của dân tộc Việt, tôi đã tìm ra, cách mà nước Mỹ non trẻ nửa vòng Trái Đất làm, cũng có một dân tộc kiên cường đã từng viết nên một phép màu y hệt. Một sự trùng hợp đến thần kỳ.  Hành động vượt sông băng của George Washington năm 1776 chính là “tấm gương phản chiếu” của cuộc vượt sông Đáy thần tốc do Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh đạo năm 1789 tại nước Việt!

Cả hai vị thiên tài quân sự đã gặp nhau ở cùng một tư tưởng lớn. Đó là, Tốc độ, Bất ngờ, và Chọn thời điểm kẻ thù sơ hở nhất!  Ý tưởng và hoàn cảnh giống hệt, đêm vượt sông Delaware của Washington là một bức tranh sơn dầu lấp lánh đầy băng giá trong đêm Giáng Sinh, và đêm vượt sông Đáy của vua Quang Trung là một bức họa cuồng phong rực lửa. Đêm 30 Tết Kỷ Dậu, khi quân xâm lược Mãn Thanh dưới sự chỉ huy của Tôn Sĩ Nghị còn đang mải mê ca hát, tiệc tùng ăn Tết cổ truyền và đinh ninh rằng quân ta ra Giêng mới dám đánh, thì trên dòng sông Đáy (đồn Gián Khẩu), hàng vạn chiến binh Tây Sơn đã lặng lẽ vượt sông.

mopmolmlmlml;m;.jpg

Im lìm không tiếng động, trong đêm đen không một ánh lửa, quân Tây Sơn thần tốc vây chặt và bắt gọn toàn bộ toán quân do thám tiền tiêu của địch, khiến hệ thống phòng thủ của quân Thanh hoàn toàn bị “mù mịt thông tin” ngay từ phát súng đầu tiên. Sự phong tỏa tình báo tài tình này đã mở đường cho cuộc hành quân chớp nhoáng vô tiền khoáng hậu để làm nên trận đại thắng Ngọc Hồi - Đống Đa kinh thiên động địa.  Đến Mùng 5 Tết, cả thành Thăng Long rung chuyển trong khói lửa ngút trời, Tôn Sĩ Nghị khiếp sợ đến vỡ mật, không kịp đóng yên ngựa, vứt bỏ ấn tín mà tháo chạy qua sông Hồng.  Thây giặc Tàu tầng tầng lớp lớp làm nghẽn cả dòng nước.

Tìm được những thông tin này, tôi xúc động gần như nghẹt thở.  Phải kiếm thêm bằng chứng thuyết phục hơn để tôi còn có thể “khoe” với những người bạn Mỹ của tôi trong Hội Cựu Chiến Binh Không Quân Hoa Kỳ  “Tan Son Nhut Association (TSNA)” mà mấy chục năm nay chúng tôi vẫn thường chia sẻ cho nhau những thông tin, bài viết tiếng Anh, về quê hương Việt Nam.

nmkopm;ml;ml;ml;ml;.jpg

Trận Đống Đa oai hùng ấy tôi vốn đã nghe kể và đã được học từ thuở ấu thơ, cũng từng đọc qua nhiều sử sách.  Để tìm kiếm những nguồn tài liệu độc lập, những bằng chứng đanh thép nhất bằng tiếng Anh, tôi đã trải qua nhiều giờ tìm kiếm và “mò” vào hệ thống lưu trữ cổ thư trực tuyến HOLLIS (Harvard Online Library Information System) của Đại học Harvard danh tiếng.

Thư Viện Harvard thông tin dày đặc như rừng rậm.  Cái khoảnh khắc copy cụm từ chữ Hán theo “anh Gút” bày,  “欽定安南紀事” (Khâm Định An Nam Kỷ Sự - cũng nhờ anh Gút dịch, xin nói rõ kẻo những nhà Hán Học uyên thâm lại mắng cho rằng tôi sao dám múa rìu qua mắt thợ.) và thảy vào tìm kiếm, thì nó hiện lên nguyên bản ngập tràn những dòng chữ Hán tượng hình từ thế kỷ XVIII, tim tôi bỗng đập liên hồi như một kẻ vừa tìm ra kho báu bị chôn giấu.

 Tôi lập tức dùng công cụ Google dịch trên iPhone rọi vào, hồi hộp xem từng ký tự vuông vức, cổ kính ấy được chuyển sang tiếng Việt.  Và rồi, một cảm giác nổi da gà, dựng chân lông, vừa ngạc nhiên tột độ, lẫn thích thú vô bờ, choáng ngợp lấy tâm trí tôi!

 Tôi ngồi sững sờ, xúc động đến phát khóc cho sự khám phá này.  Hiện ra trước mắt tôi là những dòng sớ tấu ngày xưa rõ mồn một như những hàng chữ Hán tôi thường thấy trong phim Tàu.  Dịch ra tiếng Việt là những lời thú nhận nghe như run rẩy, nghe như kinh hoàng của chính Sử Quan triều đình nhà Thanh ghi chép lại. 

Vì là Chiếu Chỉ triều đình phong kiến nên sách cho đọc theo lối từ phải sang trái và từ trên xuống dưới.  Những Bản Văn này ghi đầy đủ các Sắc Dụ của Hoàng Đế Càn Long ban xuống cho Tôn Sĩ Nghị, Phúc Khang An, cùng các tấu sớ của các tướng lĩnh báo cáo tình hình chiến sự kinh hoàng khi bị quân Tây Sơn quét sạch...

nnklnknknklnklnklnkl.jpg

Lưới trời lồng lộng, sử giặc rành rành, những kẻ xâm lượt đã tình cờ để lại những bằng chứng nhục nhã cho thế giới đọc! Qua lăng kính dịch thuật từ những bản văn lưu giữ tại Harvard, sự thật ngày xưa đã hiện ra mồn một. Sử sách quân Thanh thừa nhận đã bị quân dân Việt đánh cho tan tác, chết sạch ở các đồn tiền tiêu ven sông Đáy, không một tên nào kịp chạy về báo tin, và đại quân Thanh ở Thăng Long vào thế bất lực hoàn toàn trước trận bão lửa của đoàn quân vua Quang Trung.

Ngồi trước màn hình máy tính, nhìn con dấu đỏ hoàng gia của Hoàng Đế Càn Long trên trang sách cổ của Harvard, thứ mà trước nay tôi chỉ thấy qua phim ảnh, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động và tự hào dân tộc mãnh liệt. Thì ra, chân lý và niềm kiêu hãnh của người Việt chưa bao giờ phai nhạt, nó vẫn nằm trang trọng ở đó, giữa trung tâm tri thức của thế giới, chờ chúng ta mở ra xem! Quả là hồn thiêng sông núi nước Nam đã dành cho con cháu đời sau một bất ngờ quá lớn.

mopml;ml;ml;ml;ml;ml;m.jpg

Năm tháng sẽ trôi qua, lớp bụi thời gian có thể làm mờ đi nhiều thứ, nhưng ký ức về những đêm vượt sông định mệnh của Tướng George Washington và Hoàng Đế Quang Trung sẽ mãi là những mốc son chói lọi trong lịch sử nhân loại. 

Hai trăm năm mươi năm nước Mỹ kiêu hùng nhìn lại chặng đường lập quốc đầy huyền thoại, cũng là lúc chúng ta, những người con mang trong mình dòng máu Việt, nghiêng mình trân kính trước hào khí sấm sét của cha ông.

Cho nên, tự do không bao giờ là một món quà sẵn có. Dù ở bờ bên kia của đại dương hay trên mảnh đất hình chữ S thân thương, sự khát vọng về tự do và độc lập vẫn luôn luôn là một.

Khi tiếng pháo hoa rực rỡ thắp sáng bầu trời đêm Lễ Độc Lập 4 tháng 7 ở Hoa Kỳ năm nay, người Việt chúng ta hãy để những tâm hồn đồng điệu cùng hòa chung một nhịp đập. Hãy kiêu hãnh mang theo ngọn lửa rực cháy từ quá khứ để sưởi ấm cho hiện tại và soi đường cho tương lai.

  Miễn là thế giới này còn những con người trân trọng giá trị của độc lập, thì bản hùng ca vượt sông của những thiên tài kiệt xuất ngày xưa ấy sẽ còn vang vọng mãi đến muôn đời sau…

(Phương Hoa)


mklmml;ml;ml;ml;ml;m.jpg

 

 


 

 


Cuộc Sống Thi Ca


Cái Tôi Đi Hết Một Đời Người - Triết Luận Đời Sống - Tế Luân

CÁI TÔI ĐI HẾT MỘT ĐỜI NGƯỜI    Triết luận đời sống - Tế Luân Nhiều người thường nghĩ cái tôi là điều cần phải loại bỏ. Thực ra không phải v...