Nhà Thơ Hữu Loan Khóc Giữa Sài Gon - Bài Thơ Tím Cả Chiều Quê



Nhà Thơ Hữu Loan Khóc Giữa Sài Gòn


Lời tự thuật của Thi sĩ Hữu Loan, tác giả “Màu Tím Hoa Sim”

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …

Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:
-Ngọt quá.
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …

Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng, có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm chiếc bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.

Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta.

Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.



Màu tím hoa sim 
(Nguyên văn của tác giả)

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa

Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)
Hữu Loan


Nhà thơ Hữu Loan khóc giửa Sài Gòn

“Qúa cay đắng
Vinh quang gì?
Chiến thắng gì?
Mà kỷ với niệm?”


Thật hạnh ngộ khi chúng tôi được gặp nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim, cùng một số vị trong vụ án Nhân văn – Giai phẩm, những năm từ 1957 về sau, trên đất Bắc.
Sau tháng Tư 1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Nam, đã có một số thân hữu từ miền Nam ra Bắc thăm ông. Khó có thể mô tả cảnh nghèo khó của gia đình ông thuở ấy, lại khó hình dung ra cái tình cảnh cô đơn của một Hữu Loan bị chính quyền cô lập trong bao nhiêu năm.
Ông vào thăm Sàigòn khá muộn màng, có thể do điều kiện kinh tế quá khó khăn. Anh em chúng tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng, dùng cơm trưa, buổi chiều đưa ông đi dạo chơi đó đây. Thuở ấy chỉ toàn xe đạp, sang trọng tí chút là xe gắn máy. Ông rất hồi hộp khi ngồi yên sau xe gắn máy. Ông luôn bảo “Đèo nhau xe đạp, chậm rãi, thì bình an hơn”.

Quán cà phê vườn khá rộng. Khi anh Duy đưa Hữu Loan tới, quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng, mấy anh em văn nghệ, có cả một lúc có hai cô, Huyền Tr. và Thúy V. một cô là ca sĩ, cô kia đang là diễn ngâm thơ cho đài phát thanh, trong các chương trình thi ca.
Hữu Loan, thoạt nhìn như một pho tượng, sạm một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, tóc dài, trán rộng, sống mũi thẳng, cao. Tôi nghiêng người chào ông. Ông nở nụ cười. Một nụ cười cẩn thận, nói rằng thân thiện là chưa đúng. Một cái bắt tay của giao tế, dè chừng. Sống ở miền Nam, sau cơn dâu bể, nay gặp anh trở về, gặp chị ngoài kia vô, chào một nhà văn xứ Bắc vừa chạm mặt, tôi nhận ra tất cả họ đều có một hành xử khá giống nhau.
Bây giờ ông đang trước mặt. Với ly cà phê đen, bữa nay tôi có cái để mà Nhớ Lại, có cái để được Ngắm Nhìn. Hữu Loan, Ông từ đâu tới!
Trò chuyện với Hữu Loan, mến ông là một người khá hiểu biết về văn chương, học thuật. Dễ là chốn tri âm, tương phùng. Có thể do ông là người có học hành tử tế, trưởng thành vào thời kỳ nước nhà còn lưu giữ những nền móng đạo lý, những thứ vốn văn hóa quý hiếm của giống nòi.
Một ngày gặp gỡ. Bữa trưa uống một trận bia. Chiều đưa ông thăm chơi đó đây. Buổi tối ghé một quán vườn, rất đông anh em. Sáng hôm sau ông ghé tôi. Chúng tôi cùng uống cà phê, ăn sáng. Nhà tôi ngay đường Nguyễn Huệ nên nhà hàng Givral cũng gần. Vào quán, ông đầy vẻ ngỡ ngàng. Xem thực đơn, ông nói, “Tôi không biết gọi gì, anh gọi dùm”.

Tôi gọi cho ông ly cà phê sữa, bánh mì vuông, một đĩa thịt nguội, patê, xúc xích. Lúc này chúng tôi cũng đang túng thiếu, nhưng tiếp ông, tôi phải “bề thế” tí chút. Chẳng lẽ mấy mươi năm ông nhai củ mì ngoài Bắc, giờ này tôi mời ông mấy củ khoai lang trộn bo bo!
Tôi nhường ông ngồi ghế bên trong, nhìn ra đường, quang cảnh góc đại lộ Lê Lợi và Tự Do. “Sàigòn nó to rộng thế đấy”. Bên kia là Continental khách sạn thuộc loại cổ nhất Sàigòn, nhà Hát Tây [tòa nhà Hạ nghị viện thời Cộng Hòa], khách sạn Caravelle. Ông mãi nhìn cảnh đẹp bên ngoài, lại nhìn đĩa thịt nguội. Chừng không muốn ăn. Tôi giục ông ăn chút gì kẻo đói bụng. Ông nói:
“Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này”. Ông ăn một cách khó khăn. Chừng từ lâu không quen với dao nĩa. Tôi bèn gọi một đĩa tương tự, rồi bốc mà ăn, ý hô hào ông cùng bốc mà ăn.

Nhìn ông, tôi lại nhớ nước mắt của ông buổi sáng hôm qua. Lúc trò chuyện, tôi nói nhỏ với Thúy V. “Em nên ngâm bài Màu Tím Hoa Sim của chính Hữu Loan để tặng ông”.
Trong quán có cây đàn ghi-ta. Vũ D. đệm đàn. Tô Kiều Ngân rút cây sáo trúc “nhà nghề”, dìu giọng người ngâm thơ. Giọng Thúy V. mượt mà, khá trữ tình. Nghe ngâm thơ của mình, từ mấy mươi năm bị chế độ cấm phổ biến trên đất Bắc, Hữu Loan ngậm ngùi. Bất ngờ ông bật tiếng khóc.
Khuôn mặt như một phiến đá chỗ lòng suối cạn. Khó lòng thấm nước. Nhưng những hạt trong vắt cứ trôi xuống má. Ông có vẻ sờ soạng. Một bàn tay thò vào túi. Không có gì. Hai bàn tay thô tháp chỉ run run, ông kéo cái chéo áo ka-ki màu chàm, vải nhám, chừng cũng bẩn do mặc lâu ngày, đưa lên lau nước mắt…

Nhà thơ Hữu Loan qua đời vào trung tuần tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 94 tuổi. Phùng Quán ra đi ngày 22 tháng 1 năm 1995. Trần Dần mất ngày 17 tháng 1 năm 1997. Cùng những ngày của mùa xuân. Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang…và nhiều nữa… những thành phần trụ cột của Phong trào “Đi Tìm tự do tư tưởng, đòi hỏi nhân quyền”, là đỉnh cao của văn hóa, cội nguồn, nay đã ra người thiên cổ.
Thiên cổ, là Bên Kia của hiện thực bên này ư? Bên kia, ai có nhớ về? Hoài niệm, bảo tôi nghĩ và viết những dòng này./.

Nhà thơ Hữu Loan khóc giửa Sài Gòn
(Cung Tích Biền)


Bài viết thêm của Tế Luân


        Không phải Hữu Loan của những trang sách giáo khoa hay những cuộc tranh luận văn học, mà là một Hữu Loan bằng xương bằng thịt: một người thi sĩ già từ miền Bắc vào Sài Gòn, lúng túng trước dao nĩa, ngậm ngùi trước một đĩa thịt nguội, và bật khóc khi nghe chính bài thơ của mình được ngâm lại sau nhiều thập niên bị cấm đoán. Những giọt nước mắt ấy không chỉ là nước mắt của một người chồng nhớ người vợ trẻ đã khuất, mà còn là nước mắt của một đời người đã đi qua chiến tranh, tù đày, đói nghèo và những năm tháng bị đẩy ra bên lề văn học. Hữu Loan đã sống gần trọn một thế kỷ, nhưng ông mãi được nhớ đến như người thi sĩ của tình yêu chung thủy, của nỗi đau nhân thế và của màu tím bất tử trong thi ca Việt Nam. Khi ông khép lại cuộc đời mình vào mùa xuân năm 2010, ông không chỉ để lại một bài thơ nổi tiếng, mà còn để lại một biểu tượng của lòng trung thực và khí phách của người cầm bút trước mọi nghịch cảnh.

sức sống của Màu Tím Hoa Sim nằm ở chỗ bài thơ không nói về chiến công hay những khẩu hiệu của thời chiến. Hữu Loan chỉ kể một câu chuyện rất nhỏ: một đám cưới nghèo, một người vợ trẻ, một người lính ra đi rồi mất người mình yêu. Nhưng chính cái rất riêng ấy lại chạm đến cái rất chung của con người. Đó là nỗi đau của tình yêu trước sự tàn khốc của chiến tranh.


        Đọc Màu Tím Hoa Sim, người ta không chỉ thương người vợ trẻ của Hữu Loan, mà còn thương cho cả một thế hệ thanh niên Việt Nam đã phải sống trong những năm tháng binh lửa. Có những người ngã xuống ngoài mặt trận, có những người sống sót nhưng mang theo những vết thương không bao giờ lành. Nỗi đau ấy đã được Hữu Loan cô đọng vào một màu tím — màu của hoa sim, màu của thủy chung, màu của tang tóc và hoài niệm.

        Có lẽ vì thế mà khi nghe lại bài thơ của mình giữa Sài Gòn, sau hàng chục năm bị cấm đoán, Hữu Loan đã bật khóc. Đó không chỉ là nước mắt của một thi sĩ nghe lại tác phẩm của mình. Đó còn là nước mắt của một người chồng nhớ vợ, của một chứng nhân lịch sử nhớ lại một thời tuổi trẻ, và của một người cầm bút cuối cùng được nghe tiếng lòng mình vang lên giữa đồng bào.

Tôi chợt nhớ mấy câu thơ của chính Hữu Loan:

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.

Những câu thơ ấy giản dị đến mức tưởng như lời kể chuyện. Nhưng càng đọc lâu, người ta càng thấy trong đó có cả một thời đại. Đó là vẻ đẹp hiếm có của thi ca: không cần những lời lớn lao mà vẫn làm rung động trái tim người đọc suốt hơn nửa thế kỷ.

Tôi xin kết luân bằng bốn câu thơ nhỏ như một nén hương tưởng nhớ 
nhà thơ Hữu Loan:

Người đi mang cả mùa sim
Để màu tím nhuộm lặng im đất trời
Trăm năm khói phủ cuộc đời
Còn câu thơ khóc một thời chiến chinh.

Tế Luân


Sau đây là bài thơ (tôi phóng tác) được gợi hứng từ tinh thần của
Màu Tím Hoa Sim: Hữu Loan


TÍM MỘT CHIỀU QUÊ
(tiếng thở dài của một người còn lại sau chiến tranh)

Em cũng có những người anh
Ra đi từ thuở chiến tranh chưa tàn
Con đường đất đỏ mù than
Mẹ ngồi vá áo, chiều loang khói chiều.

Tôi về qua xóm tiêu điều
Gặp em bên giếng, hàng tiêu đầu làng
Mắt em như một mùa sang
Tóc xanh thơm ngọn lúa vàng tháng ba.

Ngày vui chẳng có lụa là
Em cài bông cỏ thay hoa cưới mình
Tôi mang đôi dép nhà binh
Bụi đường còn phủ hành trình trên vai.

Thương nhau một buổi rồi thôi
Sáng hôm sau lại xa người, xa quê
Mây bay trắng cả triền đê
Bóng em nhỏ xuống lối về đơn côi.

Từ nơi lửa đạn xa xôi
Đêm nghe tiếng súng bồi hồi nhớ em
Nhớ hàng cau đứng bên thềm
Nhớ đôi mắt biếc dịu êm thuở nào.

Chiến tranh như ngọn sóng cao
Cuốn bao mộng ước chìm vào hư không
Biết đâu giữa cõi mênh mông
Người đi còn gặp hay không một lần.

Bao năm tóc đã pha ngần
Tôi về tìm lại dấu chân ngày nào
Con đường cỏ mọc lao xao
Bờ ao cũ cũng nghẹn ngào gió thu.

Người xưa đã khuất thiên thu
Chỉ còn sim tím mịt mù đồi xa
Chiều nay đứng giữa quê nhà
Nghe màu hoa tím như là tiếng em.

Tím từ kỷ niệm êm đềm
Tím từ nước mắt bên thềm chiến chinh
Tím từ một mối ân tình
Theo người thi sĩ lặng nhìn thời gian.


Tế Luân



 


Tháng Sáu Chim bay - Thấy Em - Thơ Tháng Sáu 2026



Chúng ta đã bước vào Tháng Sáu (2026). Tôi có một chút thơ thẩn thẫn thờ, để cho thêm tình tự lãng mạn, góp vui cho đời thêm thi vị.
Xin mời đọc thơ cho vui.
Lê Tuấn





THẤY EM

Anh thấy ấm một góc
Thì ra em ngồi đây
Ôm tình trong nắng sớm
Anh nhìn theo áng mây.

Anh chen vào hướng gió
Hứng chút hương ngọt ngào
Thương em tình lận đận
Dệt mãi giấc chiêm bao.

Như ngày xanh tuổi ngọc
Những hạt nắng trong mơ
Con ong vàng tìm mật
Góp đầy niềm đợi chờ.

Gió chiều vương sợi tóc
Nắng nghiêng dài vuốt ve
Anh cúi tìm chiếc lá
Báo mùa thu trở về.

Nghe tiếng nhạc chan hòa
Bài tình ca thương nhớ
Mái tóc mềm hương nắng
Thoảng nhẹ mùi hương xưa.

Anh nhìn theo cọng cỏ
Lay nghiêng bóng chiều tà
Bỗng nhiên em quay lại
Môi tình nồng nở hoa.

Tế Luân
06-10-26

Đây là một bài thơ ngũ ngôn rất đẹp, có ưu điểm là ngôn ngữ giản dị, hình ảnh trong sáng và mạch cảm xúc liền lạc.
Nhờ AI dịch

SEEING YOU

I felt a corner warm,
And there you were,
Holding love in morning sunlight,
While I watched the drifting clouds.

I stepped into the breeze,
Catching a trace of sweetness.
Thinking of your troubled love,
Still weaving endless dreams.

Like the emerald days of youth,
Like sunbeams born in dreams,
A golden bee seeks honey,
Gathering hope and waiting.

The evening wind touched your hair,
Slanting sunlight lingered long.
I bent to find a fallen leaf,
A sign that autumn nears.

Music flowed around us,
A love song filled with longing.
Your fragrant, sunlit hair
Carried scents from days gone by.

I watched a blade of grass
Sway beneath the fading light.
Then suddenly you turned,
And love bloomed upon your smile.

— Tế Luân
June 10, 2026




Tháng Sáu Chim Bay

Không gian tháng sáu chim bay mỏi cánh
Ngày còn dài chen lấn cả bóng đêm
Bữa tiệc sân vườn đèn treo lấp lánh
Tiếng nhạc gợi tình đón bước chân em.

Ly rượu còn đầy môi em chợt nóng
Áo mỏng gió đùa dịu mát da thơm
Ai hát mà nghe lòng như gợi sóng
Khúc tình buồn mang chút dỗi hờn

Buổi chiều thứ bảy sáng mai chủ nhật
Tháng sáu ngày dài, váy ngắn gợi tình
Một chút buông thả cho đời hưng phấn
Thơm nụ xuân hồng tạo dáng xinh xinh.

Điệu tango xoay vòng như năm tháng,
Kéo tuổi xuân về thấp thoáng đâu đây.
Một đêm tháng sáu tưởng dài vô tận,
Mà thời gian thấp thoáng cánh chim bay.

Rồi mai lá úa nhuộm vàng ký ức,
Mùa thu nào cũng trở lại sau lưng.
Ta nâng chén đời giữa đêm còn trẻ,
Nghe tháng sáu cười trong phút vui mừng.


Tế Luân





Nhờ AI dịch

June Birds

June stretches across the sky—
birds weary from their endless flight.
The day lingers, refusing night,
while garden lanterns glow with light.

Music drifts among the trees,
welcoming your gentle tread.
Wine blushes warm upon your lips,
summer breezes brush your skin instead.

A lonely love song fills the air,
half sorrow, half a sweet complaint.
The tango turns, the years turn too,
and vanished youth appears, then fades.

Saturday slips toward Sunday dawn.
The long June day still breathes its fire.
For one brief night we let go of care,
surrendering to joy and desire.

Yet time is swift as migrant wings.
Tomorrow's leaves will turn to gold.
Autumn will walk behind us still,
as it has done in days of old.

So raise a cup to life tonight,
while youth remains within the heart.
And hear June laughing in the dark,
before its fleeting season departs.

— Tế Luân







FIFA WOLD CUP 2026 - Khai Mạc June 11, 2026 Tại Mexico City, Toronto và Los Angeles



FIFA World Cup 2026
Khai mạc đầu tiên tại sân vận động huyền thoại Estadio Azteca ở Mexico City trước trận đấu khai mạc giữa Mexico và Nam Phi.


FIFA muốn cả Bắc Mỹ trở thành một sân khấu chung. Bóng đá không còn thuộc về một quốc gia mà trở thành nhịp cầu nối giữa các dân tộc, ngôn ngữ và nền văn hóa khác nhau.

Lễ khai mạc đầu tiên sẽ diễn ra ngày 11 Tháng 6, 2026 tại sân vận động huyền thoại Estadio Azteca ở Mexico City trước trận đấu khai mạc giữa Mexico và Nam Phi.

FIFA World Cup 2026 – Một Bước Ngoặt Lịch Sử

Ngày 11 tháng 6 năm 2026, trái bóng World Cup sẽ chính thức lăn trên sân vận động huyền thoại Estadio Azteca tại Mexico City. Đây là kỳ World Cup đầu tiên có 48 đội tuyển tham dự và cũng là lần đầu tiên giải đấu được đồng tổ chức bởi ba quốc gia: Mexico, Canada và United States. Giải đấu kéo dài từ ngày 11/6 đến 19/7/2026 với tổng cộng 104 trận đấu, nhiều nhất trong lịch sử World Cup.

Nếu World Cup 1930 tại Uruguay là biểu tượng của sự khởi đầu, thì World Cup 2026 có thể được xem là biểu tượng của thời đại toàn cầu hóa. Chưa bao giờ một giải đấu bóng đá lại có quy mô rộng lớn đến như vậy, trải dài trên 16 thành phố đăng cai và thu hút hàng tỷ khán giả trên toàn thế giới.



Ba Lễ Khai Mạc – Một Thông Điệp Chung

Điểm đặc biệt nhất của World Cup 2026 là FIFA lần đầu tiên tổ chức ba lễ khai mạc riêng biệt tại ba quốc gia chủ nhà.

Các buổi lễ sẽ diễn ra tại:

Mexico City, Toronto và Los Angeles

Nhằm tôn vinh bản sắc văn hóa riêng của từng quốc gia, đồng thời gửi đi thông điệp về sự đoàn kết xuyên biên giới thông qua bóng đá.

Đây là một ý tưởng mang tính biểu tượng sâu sắc, trở thành nhịp cầu nối giữa các dân tộc, ngôn ngữ và nền văn hóa khác nhau.

World Cup Của Sự Đa Dạng

Với 48 đội tuyển, nhiều quốc gia lần đầu tiên có cơ hội góp mặt ở ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Điều này giúp World Cup trở nên gần gũi hơn với các nền bóng đá đang phát triển ở châu Á, châu Phi và khu vực CONCACAF.

Dĩ nhiên, việc mở rộng số đội cũng gây nhiều tranh luận. Một số chuyên gia lo ngại chất lượng chuyên môn có thể bị phân tán. Tuy nhiên, FIFA cho rằng đây là cách để bóng đá thực sự trở thành môn thể thao toàn cầu, tạo cơ hội cho nhiều dân tộc được góp mặt trên sân khấu lớn nhất thế giới.

Có Thể Là Kỳ World Cup Cuối Cùng 
Của Một Thế Hệ Huyền Thoại

Đối với nhiều người hâm mộ, World Cup 2026 còn mang ý nghĩa cảm xúc đặc biệt. Đây có thể là kỳ World Cup cuối cùng mà người ta còn được chứng kiến những tên tuổi vĩ đại như Lionel Messi hay Cristiano Ronaldo trên sân khấu lớn nhất của bóng đá thế giới.

Một thế hệ huyền thoại đang dần khép lại, trong khi những ngôi sao trẻ sẽ bắt đầu viết nên chương mới của lịch sử World Cup.

Bóng Đá Và Sức Mạnh Kết Nối Nhân Loại

Có lẽ điều kỳ diệu nhất của World Cup không nằm ở những chiếc cúp vàng hay những bàn thắng đẹp mắt. Điều kỳ diệu nằm ở chỗ trong một tháng ngắn ngủi, hàng tỷ con người từ mọi chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ cùng hướng mắt về một trái bóng.

Như cựu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan từng nói:

"Bóng đá có sức mạnh đoàn kết con người theo cách mà ít điều khác có thể làm được."

Và có lẽ World Cup 2026 chính là minh chứng rõ ràng nhất cho điều đó: ba quốc gia, hàng trăm dân tộc, hàng tỷ trái tim, nhưng cùng chung một niềm đam mê.

"Khi ngọn lửa World Cup được thắp sáng tại Mexico City, Toronto và Los Angeles, đó không chỉ là khởi đầu của một giải bóng đá. Đó còn là lời khẳng định rằng trong một thế giới còn nhiều chia rẽ, thể thao vẫn có thể tạo nên những khoảnh khắc đoàn kết kỳ diệu. Trên những khán đài rực rỡ sắc màu của World Cup 2026, nhân loại sẽ một lần nữa cùng hát chung một bài ca của niềm vui, hy vọng và tình bằng hữu."

Một câu hỏi mà hàng tỷ người hâm mộ bóng đá đang tranh luận.
Đội tuyển nào vào bán kết và đội tuyển nào chiến thắng?

Đội tuyển Hoa Kỳ có hy vọng gì không?

Thật khó trản lời. Tuy nhiên, cần nói trước rằng World Cup luôn chứa đựng những bất ngờ lớn. Năm 2014 ít ai nghĩ Đức sẽ thắng Brazil 7-1; năm 2018 Croatia vào chung kết; năm 2022 Morocco vào bán kết. Vì vậy mọi dự đoán đều chỉ mang tính xác suất.

Các ứng cử viên sáng giá nhất
Theo các mô hình thống kê và tỷ lệ cược quốc tế trước ngày khai mạc, các đội được đánh giá cao nhất là:

1. Spain
2. France
3. England
4. Argentina
5. Brazil
6. Germany

Mô hình siêu máy tính Opta hiện đánh giá Tây Ban Nha là ứng cử viên số một, nhỉnh hơn Pháp, Anh và Argentina.

Dự đoán bán kết

Nếu các đội mạnh thi đấu đúng phong độ, tôi cho rằng bốn đội có khả năng vào bán kết cao nhất là:
Spain
France
Brazil
Argentina

Tuy nhiên Anh và Đức hoàn toàn có thể thay thế một trong hai đội Nam Mỹ nếu đạt phong độ cao.

Dự đoán trận chung kết

Nếu phải chọn hôm nay, tôi nghiêng về:

Tây Ban Nha – Brazil

Tây Ban Nha hiện sở hữu thế hệ cầu thủ trẻ xuất sắc nhất thế giới với những ngôi sao như Lamine Yamal, Pedri và Nico Williams.

Trong khi đó Brazil dưới sự dẫn dắt của Carlo Ancelotti đang được đánh giá là mạnh hơn các năm gần đây.


Ai có thể vô địch?

Nếu phải chọn một đội duy nhất: Thì đội tuyển Tây ban Nha có hy vọng

🥇 Tây Ban Nha

Lý do:
Đội hình trẻ nhưng đã trưởng thành.
Vô địch Euro gần đây.
Chiều sâu đội hình rất mạnh.
Nhiều chuyên gia và mô hình dữ liệu đang xếp họ ở vị trí số 1.

Tỷ lệ dự đoán của Opta cho thấy Tây Ban Nha có cơ hội vô địch cao nhất, khoảng 16%, cao hơn mọi đội khác nhưng vẫn cho thấy World Cup rất khó đoán.

Hoa Kỳ có hy vọng gì không?


Có, nhưng cần nhìn thực tế.

Lợi thế của Hoa Kỳ:
Được thi đấu trên sân nhà.
Sự cổ vũ của hàng chục triệu khán giả.
Thế hệ cầu thủ tài năng nhất lịch sử bóng đá Mỹ như Christian Pulisic, Weston McKennie và Tyler Adams.
Bảng đấu tương đối thuận lợi. Nhiều chuyên gia dự đoán Mỹ có khả năng đứng đầu bảng D.

Nhưng khó khăn là:
Chưa có truyền thống tiến sâu ở World Cup hiện đại.
Thiếu những siêu sao đẳng cấp thế giới như Mbappé hay Vinícius Jr.
Kinh nghiệm ở các trận đấu loại trực tiếp còn hạn chế.

Các nhà cái hiện chỉ đánh giá Mỹ khoảng 55-60/1 để vô địch, và khả năng vào bán kết vào khoảng 10-12%.

Dự đoán riêng của tôi về Hoa Kỳ
Vượt qua vòng bảng: Khả năng cao.
Vào tứ kết: Hoàn toàn khả thi.
Vào bán kết: Thành công lịch sử.
Vô địch: Khả năng thấp nhưng không phải bằng không.

Nếu Hoa Kỳ lọt vào bán kết trên sân nhà, đó sẽ là thành tích tốt nhất kể từ kỳ World Cup 1930, khi đội tuyển Mỹ từng đứng trong nhóm bốn đội mạnh nhất thế giới.

Một bất ngờ tôi đang chờ đợi

Mỗi kỳ World Cup đều có một "ngựa ô". Năm nay tôi đặc biệt chú ý đến:
Belgium
Colombia
Türkiye

Một trong ba đội này có thể tạo nên câu chuyện cổ tích của World Cup 2026.

Nếu nhìn dưới góc độ của người đang sống tại California và sẽ được chứng kiến nhiều trận đấu ngay trên đất Mỹ, thì kịch bản hấp dẫn nhất có lẽ là: Hoa Kỳ vào tứ kết, còn chức vô địch thuộc về Tây Ban Nha hoặc Pháp. Đây cũng là nhận định gần với đánh giá của đa số chuyên gia quốc tế trước giờ khai cuộc.



Cá Độ Thể Thao Lớn Nhất Thế Giới

World Cup 2026 không chỉ là sự kiện thể thao lớn nhất hành tinh mà cũng đang được dự đoán sẽ trở thành sự kiện cá cược thể thao lớn nhất trong lịch sử.

Tại Hoa Kỳ và Las Vegas

Las Vegas đang chuẩn bị cho một lượng khách chưa từng có. Các nhà cái lớn như Caesars, BetMGM, DraftKings và FanDuel đã mở hàng trăm loại cược khác nhau, từ đội vô địch, vua phá lưới, đến từng tình huống trong trận đấu. Các chuyên gia dự báo người Mỹ sẽ đặt khoảng 3,1 tỷ USD tiền cược hợp pháp riêng cho World Cup 2026. Nếu cộng thêm các thị trường dự đoán như Kalshi và Polymarket, con số có thể vượt 5 tỷ USD.

Nhiều nhà phân tích ở Nevada cho rằng nếu đội tuyển Hoa Kỳ tiến sâu vào giải, lượng tiền cá cược thực tế còn có thể vượt xa các dự báo hiện nay.


Trên Toàn Thế Giới

Các công ty phân tích cá cược quốc tế dự đoán tổng số tiền cược toàn cầu cho World Cup 2026 có thể đạt khoảng 50–60 tỷ USD, tăng mạnh so với World Cup 2022. Một số dự báo thậm chí còn cao hơn nếu tính cả thị trường không chính thức và cá cược bất hợp pháp.

Để dễ hình dung:
Super Bowl thường tạo ra vài tỷ USD tiền cược tại Hoa Kỳ.
World Cup kéo dài 39 ngày với 104 trận đấu.
Người hâm mộ đến từ hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều tham gia cá cược.
Bóng đá hiện là môn thể thao có doanh số cá cược lớn nhất toàn cầu.

Tiền đang đổ vào đội nào?

Theo các thị trường cá cược hiện nay, những đội thu hút nhiều tiền cược nhất là:

1. Spain
2. France
3. England
4. Brazil
5. Argentina
6. Portugal

Trong khi đó, Hoa Kỳ tuy không nằm trong nhóm ứng cử viên vô địch hàng đầu nhưng lại nhận được lượng vé cược rất lớn từ người hâm mộ trong nước. Một số nhà cái tại Las Vegas ghi nhận Mỹ nằm trong nhóm 10 đội được đặt cược nhiều nhất.

Điều thú vị của World Cup

Lịch sử World Cup cho thấy đội được cá cược nhiều nhất không phải lúc nào cũng chiến thắng.
Năm 2002, Brazil vô địch nhưng trước giải không phải ứng cử viên số một.
Năm 2018, Croatia vào chung kết dù tỷ lệ cược rất thấp.
Năm 2022, Morocco vào bán kết gây chấn động thế giới.

Vì thế, các nhà cái luôn chiến thắng về lâu dài, nhưng World Cup vẫn là nơi những câu chuyện cổ tích có thể xảy ra.

Một góc nhìn văn hóa

Điều đáng suy ngẫm là số tiền cá cược toàn cầu của World Cup 2026 có thể tương đương hoặc vượt GDP hàng năm của nhiều quốc gia nhỏ. Điều đó cho thấy bóng đá ngày nay không chỉ là thể thao mà còn là một ngành công nghiệp giải trí, truyền thông và tài chính khổng lồ.

Có lẽ vì vậy mà Chủ tịch FIFA, Gianni Infantino, từng ví World Cup 2026 như việc tổ chức "104 trận Super Bowl liên tiếp trong hơn một tháng".

Nếu ông đang viết một bài bình luận về World Cup 2026, tôi nghĩ có thể thêm một nhận định thú vị như sau:

"Trên sân cỏ, các đội tuyển tranh tài vì chiếc cúp vàng danh giá. Ngoài sân cỏ, hàng chục tỷ đô-la đang luân chuyển qua các thị trường cá cược toàn cầu. Nhưng cuối cùng, điều khiến World Cup trở thành sự kiện vĩ đại nhất vẫn không phải là tiền bạc, mà là niềm hy vọng của hàng tỷ người hâm mộ cùng hướng về một trái bóng tròn."

Sưu tấm
Lê Tuấn




Bản đồ các thành phố đăng cai












Ca Canada (2 thành phố)
Toronto
Vancouver

🇲🇽 Mexico (3 thành phố)
Mexico City
Guadalajara
Monterrey

🇺🇸 Hoa Kỳ (11 thành phố)
Seattle
San Francisco (khu vực Vịnh San Francisco, sân vận động ở Santa Clara)
Los Angeles
Kansas City
Dallas
Houston
Atlanta
Miami
Boston
Philadelphia
New York/New Jersey (địa điểm trận chung kết)

Phân vùng địa lý của FIFA

FIFA chia 16 thành phố thành 3 cụm lớn để giảm thời gian di chuyển của các đội tuyển và cổ động viên:

Miền Tây (Western Region)

Vancouver
Seattle
San Francisco
Los Angeles
Guadalajara

Miền Trung (Central Region)

Kansas City
Dallas
Houston
Monterrey
Mexico City

Miền Đông (Eastern Region)

Toronto
Boston
New York/New Jersey
Philadelphia
Miami

Điều đặc biệt với cư dân Bắc California

Ông đang ở vùng Santa Clara nên thực tế ông chỉ cách sân World Cup vài phút lái xe. Khu vực Bay Area sẽ tổ chức các trận đấu tại Levi's Stadium, sân nhà của đội San Francisco 49ers. Đây là một trong những địa điểm quan trọng của giải, dự kiến tổ chức nhiều trận vòng bảng và vòng loại trực tiếp.

Các mốc chính
Khai mạc: Mexico City.
Chung kết: New York/New Jersey (sân MetLife).
Tổng số đội: 48 đội.
Tổng số trận: 104 trận.
Thời gian: từ 11/6 đến 19/7/2026.








Cuộc sống và thi ca - Nợi hội tụ văn Học Nghệ Thuất.





Tình Yêu và Quyền Sở Hữu - Biên Khảo Tế Luân



Tình Yêu Và Quyền Sở Hữu



Biên Khảo Lê Tuấn

Tôi thường tự đặt câu hỏi? và đi tìm câu trả lời, những đề tài mang tính Triết Học và Đời Sống.

Hôm nay tôi suy nghĩ về Tình Yêu, rồi so sánh giữa tình yêu và sự lãng mạn của các Văn Thi Sĩ.

Người ta thường nói
"Tình yêu là sự tự do."
"Tình yêu là tôn trọng."
"Tình yêu là không ràng buộc."

Những câu nói ấy đẹp đẽ và đầy tính lý tưởng. Nhưng nếu nhìn thẳng vào thực tế đời sống, chúng ta sẽ thấy một sự thật khác:
Hầu như không ai muốn chia sẻ người mình yêu.

Người ta có thể chia sẻ tiền bạc, tài sản, tri thức, thậm chí quyền lực. Nhưng rất ít người sẵn sàng chia sẻ trái tim của người mình yêu với một người khác.

Đó là nghịch lý của tình yêu.
Con người luôn ca ngợi tự do, nhưng khi yêu lại muốn độc quyền.
Luôn muốn nghe câu nói:

"Anh là người duy nhất."
"Em chỉ thuộc về anh."
"Không ai có thể thay thế em."

Trong những lời nói ấy, tình yêu và quyền sở hữu đã hòa lẫn vào nhau đến mức khó phân biệt.
Trước khi bắt đầu cho bài biên khảo với chủ đề “Tình Yêu Và Quyền Sở Hữu”.

Đây là một đề tài rất thú vị, vì nó chạm đến một nghịch lý muôn thuở của con người: ai cũng ca ngợi tình yêu là tự do, nhưng khi yêu lại muốn sở hữu. Nếu viết theo quan điểm nhân sinh và triết học đời sống thực dụng, không che đậy những bản năng thật của con người, thì vấn đề không đơn giản là "tình yêu đối lập với sở hữu", mà là cuộc giằng co giữa tự do và bản năng chiếm hữu.

Tình yêu mang lại sự tự do và tôn trọng. Trái lại, quyền sở hữu mang lại sự kiểm soát và giam cầm. Tình yêu đích thực giúp hai người cùng phát triển. Sự sở hữu biến người yêu thành một món đồ. Nhưng trên thực tế, không ai muốn chia sẻ người mình yêu, ai cũng muốn sở hữu người mình yêu, luôn luôn nằm trong vòng tay và sự kiểm soát của mình.

Tuy nhiên, nếu muốn đào sâu hơn về phương diện nhân sinh và triết học đời sống, có lẽ cần nhìn nhận rằng tình yêu và quyền sở hữu không hoàn toàn đối nghịch nhau, mà là hai lực kéo cùng tồn tại trong tâm hồn con người.

Tình yêu hướng đến sự hợp nhất, còn tự do hướng đến sự độc lập. Con người lại luôn cần cả hai.

Ta muốn được gần gũi người mình yêu, nhưng cũng muốn được là chính mình. Chính vì vậy, mọi cuộc tình đều là cuộc thương lượng không ngừng giữa tự do và gắn bó.

Tuy nhiên theo Quan điểm Phật giáo


Tình yêu gắn với chấp thủ.
Khổ đau sinh ra từ sự nắm giữ.
Khi càng muốn giữ, càng dễ mất.

Quan điểm Kitô giáo


Tình yêu là hiến dâng hơn là chiếm hữu.
Thánh Augustine từng cho rằng:
"Nơi nào có tình yêu, nơi đó có tự do."

Quan điểm hiện sinh

Jean-Paul Sartre cho rằng:
Khi yêu, con người luôn muốn được người khác tự do lựa chọn mình.
Đây là nghịch lý rất gần với chủ đề bài viết.

Nếu Nhìn Từ Góc Độ Bản Năng Sinh Tồn

Nếu nhìn từ góc độ sinh học tiến hóa, điều này không có gì khó hiểu.

Từ hàng trăm nghìn năm trước, con người khi sống trong các hang động, hình thành một trong những cộng đồng nhỏ.
Theo nhiều nhà nghiên cứu sinh học tiến hóa..." họ nhận định.

Người đàn ông muốn biết đứa con sinh ra là huyết thống của mình.
Người phụ nữ muốn giữ người đàn ông ở lại để bảo vệ và cung cấp nguồn sống cho gia đình.
Từ đó hình thành nhu cầu độc quyền trong quan hệ tình cảm.
Nói cách khác, trước khi tình yêu trở thành thơ ca, nó đã từng là một chiến lược sinh tồn.

Ngày nay, xã hội văn minh hơn, nhưng những tiến trình bản năng ấy vẫn còn nằm sâu trong tâm thức con người.
Đó là lý do tại sao ngay cả những người rất lý trí vẫn có thể ghen tuông.
Nếu nhìn từ góc độ Bản Năng Sinh Tồn. Đây là điều rất đáng suy ngẫm, vì nó chạm đến một câu hỏi lớn của nhân loại:

“tình yêu là sản phẩm của văn hóa hay là sự tiếp nối của bản năng sinh tồn?”

Trong thời đại hiện tại con người có nhiều cảm xúc, gọi là "tình yêu" thực ra có nguồn gốc rất xa xưa từ những cơ chế giúp tổ tiên chúng ta tồn tại và duy trì nòi giống.

Ở nhiều loài động vật, con đực tìm cách chiếm giữ lãnh thổ và sở hữu nhiều bạn tình để gia tăng khả năng truyền gen của mình cho thế hệ sau.

Trong khi đó, con cái thường có xu hướng lựa chọn những con đực mạnh khỏe, có khả năng bảo vệ hoặc cung cấp nguồn sống tốt hơn cho con non. Đây không phải là vấn đề đạo đức hay tình cảm, mà đơn giản là một chiến lược sinh tồn được hình thành qua hàng triệu năm tiến hóa.

Khi con người còn sống trong các bộ lạc nguyên thủy, những nhu cầu ấy cũng tồn tại dưới hình thức tinh vi hơn.

Người đàn ông muốn biết đứa trẻ mình nuôi dưỡng thực sự mang huyết thống của mình. Điều đó giúp ông ta yên tâm đầu tư công sức, thức ăn và sự bảo vệ cho thế hệ kế tiếp.

Người phụ nữ, trong bối cảnh mang thai, sinh nở và nuôi con kéo dài nhiều năm, lại cần sự hiện diện của người đàn ông để tăng cơ hội sống sót cho bản thân và con cái.

Từ đó dần hình thành những liên kết đôi lứa tương đối ổn định. Nói cách khác, trước khi tình yêu trở thành thơ ca, âm nhạc hay triết học, nó đã từng là một cơ chế giúp con người vượt qua những thử thách khắc nghiệt của thiên nhiên.

Tình dục và tình yêu không hoàn toàn giống nhau

Một điểm quan trọng là sinh học tiến hóa cho thấy tình dục và tình yêu có liên hệ với nhau nhưng không phải là một.

Tình dục chủ yếu phục vụ việc sinh sản.

Tình yêu lại là cơ chế giúp duy trì mối liên kết lâu dài giữa hai người.

Con người có thể:
Có tình dục mà không có tình yêu.
Có tình yêu mà không có tình dục.
Có cả hai cùng lúc.

Ví dụ thứ nhất


Một người đàn ông có thể bị hấp dẫn mạnh bởi ngoại hình của một phụ nữ xa lạ. Đó chủ yếu là phản ứng sinh học và tình dục.

Nhưng anh ta chưa chắc muốn chia sẻ cuộc đời, trách nhiệm hay tương lai với người ấy. Ngược lại, một cặp vợ chồng già đã sống với nhau năm mươi năm. Hấp dẫn thể xác có thể không còn mạnh như tuổi trẻ, nhưng họ vẫn gắn bó, lo lắng và hy sinh cho nhau. Đó là tình yêu vượt lên trên nhu cầu tình dục.

Victor Hugo và Juliette Drouet


Tác giả Những người khốn khổ quen nữ diễn viên Juliette Drouet năm 1833. Từ đó, bà từ bỏ sự nghiệp, trở thành người bạn đời âm thầm của ông trong suốt 50 năm. Dù Victor Hugo đã có vợ, nhưng mối quan hệ với Juliette sâu đậm đến mức ông gọi bà là “người vợ của tâm hồn mình”.

Juliette viết cho ông hơn 20.000 lá thư, theo ông đi khắp nơi, kể cả những năm tháng lưu vong vì bất đồng chính trị. Dù không chính danh, nhưng bà là người duy nhất Victor Hugo yêu trọn đời.


Beethoven và “người tình bất tử”


Năm 1812, nhà soạn nhạc thiên tài Ludwig van Beethoven viết một bức thư nồng nàn cho một người phụ nữ mà ông gọi là “người tình bất tử” (Unsterbliche Geliebte). Bức thư chưa bao giờ được gửi đi, và đến nay danh tính người phụ nữ ấy vẫn là điều bí ẩn.

Trong thư, ông viết: “Mãi mãi là của em. Mãi mãi là của anh. Mãi mãi là của chúng ta”. Câu nói ấy đã trở thành một trong những lời tỏ tình bất hủ nhất mọi thời đại. Dù người ấy là ai, tình cảm của Beethoven đã vượt cả lý trí và thời gian.


John Keats và Fanny Brawne


Nhà thơ người Anh John Keats gặp Fanny năm 1818. Họ yêu nhau sâu đậm, nhưng Keats khi đó nghèo, lại mắc lao phổi. Họ đính hôn trong bí mật. Trong giai đoạn bệnh nặng, Keats chủ động xa cách Fanny để không khiến cô đau lòng.

Trước khi qua đời ở Rome ở tuổi 25, Keats để lại những bức thư tình day dứt, khắc khoải. Fanny giữ chúng suốt đời và không bao giờ tái giá. Những bức thư ấy ngày nay được xem là đỉnh cao của thư tình tiếng Anh.

Thêm một ví dụ về tình yêu

Trong văn học thế giới, chuyện tình của Dante Alighieri dành cho Beatrice Portinari là một ví dụ nổi tiếng. Hai người hầu như không có đời sống lứa đôi thực sự, nhưng hình ảnh Beatrice đã trở thành nguồn cảm hứng tinh thần cho toàn bộ sự nghiệp thi ca của Dante. Đó là tình yêu lý tưởng hóa hơn là tình dục.

Ví dụ tình yêu sắp đặt vì quyền lực

Ngược lại, trong nhiều xã hội cổ đại, các cuộc hôn nhân được sắp đặt vì quyền lực, tài sản hoặc liên minh chính trị. Quan hệ tình dục và sinh con vẫn diễn ra, nhưng không nhất thiết có tình yêu.

Điều đó cho thấy hai hiện tượng này tuy liên quan nhưng không đồng nhất.

Vì sao con người ghen?


Từ góc độ tiến hóa, ghen tuông là một cơ chế bảo vệ mối quan hệ.

Đối với tổ tiên nam giới, sự không chắc chắn về huyết thống là một nguy cơ lớn. Đối với tổ tiên nữ giới, nguy cơ là người bạn đời bỏ đi và chuyển nguồn lực sang người khác. Do đó, cảm xúc ghen được hình thành như một hệ thống báo động tâm lý.

Điều thú vị là ngày nay, mặc dù xã hội đã thay đổi rất nhiều, bộ não con người vẫn mang theo những dấu vết của quá khứ tiến hóa ấy.

Một giáo sư đại học, một nhà khoa học hay một triết gia đều hiểu rằng người yêu của mình là một cá thể tự do. Nhưng khi thấy người mình yêu quá thân mật với một người khác, cảm giác khó chịu vẫn có thể xuất hiện gần như tức thời.

Lý trí thuộc về hiện tại.
Bản năng thuộc về hàng trăm nghìn năm lịch sử tiến hóa.

Nhưng con người không chỉ là bản năng. Nếu chỉ nhìn bằng sinh học, chúng ta sẽ bỏ sót phần cao đẹp nhất của tình yêu.

Loài vật có thể chiếm hữu vì bản năng.

Con người có khả năng vượt lên trên bản năng bằng đạo đức, văn hóa và ý thức.

Chính vì vậy mà trong tình yêu trưởng thành, người ta không còn xem người mình yêu là tài sản để sở hữu, mà là một nhân vị độc lập để tôn trọng.

Nhà triết học Erich Fromm từng viết rằng:

"Tình yêu không phải là chiếm hữu.
Tình yêu là sự quan tâm, trách nhiệm, tôn trọng và hiểu biết."

Có lẽ đó là sự khác biệt lớn nhất giữa tình yêu và bản năng sinh tồn:

Bản năng nói: "Em là của anh."
Tình yêu trưởng thành nói:
"Em là chính em, và anh trân trọng sự tự do ấy."

Vì thế, ghen tuông có thể là di sản của tiến hóa, nhưng khả năng vượt qua sự chiếm hữu để yêu bằng sự tôn trọng lại là thành tựu của văn minh. Đây cũng là hành trình mà nhân loại đã đi qua: từ bản năng sinh tồn đến tình yêu mang tính nhân văn và tinh thần.

Viết đến đây tôi lại ngẫu hứng viết vài câu thơ cho bài biên khảo thêm chút lãng mạn văn thơ.

Em là phút nhiệm mầu
Ngây thơ đôi mắt nâu
Tim anh đập nhịp sâu
Hương xuân như bắt đầu.

Tình đến vì rung động
Tim anh thổn thức chờ
Chờ em bờ môi ướt
Làm mát cả hồn thơ.

Ghen Tuông:

Dấu Hiệu Của Tình Yêu Hay Của Sự Chiếm Hữu?

Xã hội thường lãng mạn hóa sự ghen tuông. Nhiều bộ phim, tiểu thuyết và bài hát xem ghen tuông như bằng chứng của tình yêu.


"Anh ghen vì anh yêu em."
"Em ghen vì em sợ mất anh."

Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, ghen tuông thường bắt nguồn từ nỗi sợ.
Sợ bị thay thế.
Sợ bị bỏ rơi.
Sợ mất đi một điều mình xem là của mình.

Khi nói:

"Anh không muốn em gặp người đó."
Nhiều khi điều được bảo vệ không phải tình yêu mà là quyền sở hữu.
Giống như một người sợ mất món đồ quý giá của mình.

Hôn Nhân Và Khế Ước Sở Hữu

Trong lịch sử, hôn nhân không phải lúc nào cũng được xây dựng trên tình yêu. Nó từng là một hợp đồng xã hội. Một sự liên kết về tài sản. Một phương thức duy trì huyết thống. Một cơ chế ổn định xã hội.

Ở nhiều nền văn hóa cổ đại, người vợ được xem gần như một phần tài sản của người chồng.

Cho đến tận thế kỷ XIX, tại nhiều quốc gia phương Tây, phụ nữ sau khi kết hôn gần như mất quyền sở hữu tài sản riêng.

Điều đó cho thấy tình yêu và quyền sở hữu đã từng gắn bó rất chặt chẽ.

Ngày nay luật pháp đã thay đổi, nhưng dấu vết tâm lý vẫn còn.

Nhiều người vẫn vô thức xem người yêu như một phần lãnh thổ của mình.

Mạng Xã Hội Và Chủ Nghĩa Chiếm Hữu Mới

Nếu ngày xưa người ta khóa cửa nhà thì ngày nay người ta khóa điện thoại.

Nhiều cặp đôi đòi hỏi:

Mật khẩu Facebook.
Mật khẩu điện thoại.
Vị trí GPS.
Quyền kiểm tra tin nhắn.
Tất cả đều được biện minh bằng một câu:

"Nếu yêu thật thì có gì phải giấu."

Nhưng giữa sự minh bạch và sự kiểm soát chỉ cách nhau một lằn ranh rất mỏng. Không ít người đang sống trong một mối quan hệ giống như nhà tù được trang trí bằng hoa hồng.

Triết Học Về Tự Do Và Tình Yêu

Đoạn suy niệm này đã chạm đến một trong những nghịch lý lớn nhất của đời sống con người:

Tình yêu cần tự do để tồn tại, nhưng cũng cần cam kết để bền vững.
Nếu chỉ có tự do mà không có cam kết, tình yêu dễ tan biến như một cảm xúc nhất thời.
Nếu chỉ có cam kết mà không có tự do, tình yêu dễ biến thành nghĩa vụ hoặc sự giam cầm.
Chính vì vậy, triết học về tình yêu trong suốt hai ngàn năm qua luôn dao động giữa hai cực ấy.

Nghịch Lý Của Tình Yêu

Con người có hai nhu cầu tưởng như đối nghịch:
Muốn được tự do.
Muốn được thuộc về một ai đó.

Ta muốn được là chính mình.

Nhưng đồng thời ta cũng muốn có một nơi để trở về.

Triết gia Đan Mạch Søren Kierkegaard từng cho rằng nỗi lo âu lớn nhất của con người là phải lựa chọn giữa những khả thể vô tận của tự do.

Tự do tuyệt đối nghe có vẻ hấp dẫn. Nhưng một người hoàn toàn không bị ràng buộc với ai cũng thường cảm thấy cô đơn.

Ngược lại, một người bị kiểm soát hoàn toàn có thể mất đi bản sắc riêng. Bởi thế, tình yêu luôn là nghệ thuật cân bằng giữa hai nhu cầu đó.

Tình Yêu Không Xóa Bỏ Tự Do

Nhiều người nghĩ rằng:
"Yêu nhau tức là hai người trở thành một."
Nhưng xét về mặt triết học, điều này chỉ đúng một nửa.
Hai người yêu nhau không bao giờ thực sự trở thành một.
Họ vẫn là hai ý thức riêng biệt.
Hai tâm hồn riêng biệt.

Hai cuộc đời riêng biệt.

Triết gia Pháp Khalil Gibran đã diễn đạt điều này rất đẹp trong tác phẩm The Prophet:

"Hãy đứng bên nhau, nhưng đừng quá sát nhau.
Vì các cột trụ của ngôi đền đứng riêng rẽ".

"Và cây sồi cùng cây bách không lớn lên dưới bóng của nhau".

Tình yêu không phải là sự hòa tan hoàn toàn.

Mà là sự đồng hành của hai cá thể vẫn giữ được bản sắc riêng.



Cam Kết Là Tự Do Được Tự Nguyện Giới Hạn

Đây là điểm rất thú vị. Nhiều người xem cam kết là đối lập với tự do.

Nhưng trong triết học hiện sinh, cam kết thực chất là một biểu hiện cao hơn của tự do.

Bởi vì:

Tôi có thể lựa chọn vô số con đường.
Nhưng tôi tự nguyện chọn một con đường.
Tôi có thể thuộc về nhiều khả năng.
Nhưng tôi tự nguyện trao lòng mình cho một người.

Cam kết không phải là mất tự do. Cam kết là sử dụng tự do để tạo ra ý nghĩa.
Một người chồng chung thủy không phải vì anh ta không có lựa chọn khác. Anh ta chung thủy vì đã lựa chọn.
Một người vợ thủy chung không phải vì cô ấy bị giam giữ. Mà vì cô ấy tự do quyết định ở lại. Giá trị đạo đức nằm ở chính sự tự nguyện đó.

Sự Khác Biệt Giữa Cam Kết Và Chiếm Hữu

Đây là ranh giới rất mong manh mà nhiều người nhầm lẫn.

Cam kết nói:
"Anh đã chọn em."

Chiếm hữu nói:
"Em thuộc về anh."

Cam kết tôn trọng tự do.
Chiếm hữu sợ hãi tự do.

Cam kết được xây dựng trên niềm tin.
Chiếm hữu được xây dựng trên nỗi lo mất mát.

Người yêu trưởng thành hiểu rằng:
Dù có kết hôn hay sống với nhau năm mươi năm, người kia vẫn là một con người tự do.
Họ ở lại vì muốn ở lại. Không phải vì bị ép buộc ở lại.

Chính điều đó làm cho tình yêu trở nên quý giá. Nếu không có khả năng rời đi, thì việc ở lại cũng không còn nhiều ý nghĩa.

Ghen Tuông Và Nỗi Sợ Mất Mát


Từ góc nhìn tâm lý học, ghen không phải lúc nào cũng xuất phát từ tình yêu.
Đôi khi nó xuất phát từ nỗi sợ.

Sợ bị thay thế.
Sợ bị bỏ rơi.
Sợ đánh mất điều mình xem là quan trọng.

Vì vậy, một người có thể yêu rất ít nhưng lại ghen rất nhiều.
Ngược lại, một người yêu sâu sắc đôi khi lại biết tôn trọng tự do của người mình yêu hơn.

Điều này giải thích tại sao:
Có những cuộc hôn nhân đầy kiểm soát nhưng thiếu tình yêu.
Có những cuộc hôn nhân đầy tự do nhưng vẫn rất bền vững.

Yếu tố quyết định không phải là mức độ kiểm soát. Mà là mức độ tin cậy.

Vùng Đất Ở Giữa

Có lẽ nhận định sâu sắc nhất trong đoạn văn nằm ở câu:

"Giữa tự do tuyệt đối và sở hữu tuyệt đối là vùng đất của cam kết."

Đó là nơi mà phần lớn những cuộc hôn nhân hạnh phúc đang tồn tại.
Không ai hoàn toàn tự do như người độc thân.
Cũng không ai hoàn toàn sở hữu người khác.

Hai người cùng chấp nhận những giới hạn nhất định:
Trung thực với nhau.
Tôn trọng nhau.
Chia sẻ trách nhiệm.
Giữ lời hứa.

Những giới hạn ấy không phải là nhà tù. Chúng giống như bờ sông.

Chính bờ sông tạo nên dòng chảy. Nếu không có bờ, nước sẽ tràn lan và mất hướng. Nếu bờ quá chật, dòng nước sẽ ngột ngạt.

Tình yêu bền vững có lẽ cũng như vậy.

Nó không nằm ở cực điểm của tự do tuyệt đối, cũng không nằm ở cực điểm của sự chiếm hữu tuyệt đối.

Nó tồn tại trong khoảng không gian tinh tế nơi hai con người vừa thuộc về nhau, vừa không đánh mất chính mình.

Và có lẽ đó là định nghĩa đẹp nhất của tình yêu trưởng thành: "Anh không sở hữu em, nhưng anh chọn đồng hành cùng em. Em không thuộc về anh, nhưng em tự nguyện ở lại."

Bài thơ Thuyền và biển của Xuân Quỳnh là một trong những áng thơ tình bất hủ của Việt Nam, nói về việc dù biển và thuyền rất cần nhau, nhưng cả hai đều tôn trọng không gian và giới hạn của nhau:

Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ
Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể

Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ...



KẾT LUẬN

Có lẽ con người sẽ còn tranh luận rất lâu về câu hỏi: tình yêu là tự do hay là sở hữu?

Nhưng sự thật là cả hai luôn cùng tồn tại trong đời sống tình cảm của con người. Trong mỗi cái ôm đều có một chút mong muốn giữ lại. Trong mỗi lời hứa đều có một chút độc quyền. Trong mỗi cơn ghen đều có một chút sợ hãi. Tình yêu hoàn toàn không có yếu tố sở hữu có lẽ chỉ là lý tưởng của các triết gia. Ngược lại, tình yêu hoàn toàn mang tính sở hữu lại là cơn ác mộng của con người.

Hạnh phúc có lẽ nằm ở khoảng giữa: yêu nhau đủ sâu để muốn thuộc về nhau, nhưng cũng đủ trưởng thành để không biến nhau thành tài sản.

Nếu tiếp tục đào sâu và mở rộng hơn nữa, có lẽ không bút mực nào có thể nói cho thật đầy đủ.

Đây là một đề tài bao la, đã hiện diện trong lịch sử nhân loại từ thuở sơ khai và có lẽ sẽ còn được bàn luận mãi về sau. Bởi tình yêu, suy cho cùng, vẫn là một trong những mối quan tâm lớn nhất của con người khi bước vào cuộc đời và bước vào những mối quan hệ gắn bó.

Thôi thì tôi xin khép lại bài biên khảo này bằng một câu nói, để đi đến kết luận:

"Yêu nhau đủ sâu để muốn thuộc về nhau, nhưng cũng đủ trưởng thành để không biến nhau thành tài sản."

Câu này có thể xem như tư tưởng trung tâm của toàn bộ bài biên khảo, vì nó dung hòa được cả bản năng sinh tồn, tâm lý con người và lý tưởng tự do trong tình yêu.

Có lẽ nghịch lý lớn nhất của tình yêu nằm ở chỗ: ta luôn muốn giữ người mình yêu ở bên mình, nhưng nếu giữ bằng xiềng xích thì tình yêu sẽ chết. Con người vì thế phải học một nghệ thuật khó nhất của đời sống: biết gắn bó mà không chiếm hữu, biết yêu thương mà không biến người khác thành tài sản. Khi ấy, tình yêu không còn là cuộc đấu tranh giữa tự do và sở hữu, mà trở thành sự tự nguyện đồng hành của hai tâm hồn tự do.
Tôi xin mượn câu nói này làm chiếc cầu nối rất tự nhiên dẫn người đọc bước vào bài thơ kết thúc.




TÌNH YÊU VÀ QUYỀN SỞ HỮU

Ta yêu em chẳng phải giữ em đâu,
Nhưng vẫn muốn em là của riêng ta.
Giữa lý trí và con tim mê dại,
Có một dòng ranh giới thật mong manh.

Ta yêu em bằng tấm lòng chân thật,
Biết tôn trọng khoảng trời riêng của em.
Nhưng đêm xuống vẫn âm thầm da diết,
Sợ một ngày em vụt cánh bay xa.

Con chim nào chẳng thích gió tung bay,
Chiếc lồng đẹp vẫn là lồng giam hãm.
Tình yêu lớn không dựng thành tường chắn,
Mà mở lòng cho nhau được tự do.

Trời tự do đâu phải cõi hư vô,
Không bến đậu, con thuyền rồi lạc hướng.
Tình yêu sống nhờ những lời hẹn ước,
Giữ niềm tin như hoa nở thêm hương.

Em thuộc về ta chẳng bởi gọi mời,
Hay giấy mực, hay ngàn câu thề hứa.
Em ở lại bởi trong lòng đã chọn,
Giữa ngàn năm vẫn muốn bước cùng ta.

Nên tình yêu không là chiếc khóa nhà,
Cũng chẳng phải cánh chim trời vô định.
Là hai kẻ biết giữ lòng chung thủy,
Mà vẫn cho nhau khoảng thở riêng mình.

Yêu một người không phải để chiếm hữu,
Mà để thấy đời mình thêm lẽ sống.
Nếu em hiện hữu như điều quý giá,
Thì mất em rồi, tình hóa hư không.

Tế Luân
Viết xong tại Thành phố Milpitas
Miền Bắc California
Ngày 09 tháng 06 năm 2026









Nhà Thơ Hữu Loan Khóc Giữa Sài Gon - Bài Thơ Tím Cả Chiều Quê

Nhà Thơ Hữu Loan Khóc Giữa Sài Gòn Lời tự thuật của Thi sĩ Hữu Loan, tác giả “Màu Tím Hoa Sim” Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ...