Cuộc Tình Của Tổng Thống Thomas Jefferson Với Người Tình Sally Heming



Tổng Thống Thomas Jefferson (1743-1826)
Jefferson là tác giả chính của Tuyên Ngôn Độc Lập - Hoa Kỳ


Thomas Jefferson là Tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ. Nhiệm kỳ tổng thống
Nhậm chức: ngày 4 tháng 3 năm 1801
Kết thúc nhiệm kỳ: ngày 4 tháng 3 năm 1809

Ông phục vụ hai nhiệm kỳ liên tiếp (8 năm).
Các tổng thống trước và sau ông Thomas Jefferson

        George Washington (1789–1797)
        John Adams (1797–1801)
        Thomas Jefferson (1801–1809)
        James Madison (1809–1817)

Thomas Jefferson (Sinh 13 tháng 4, 1743 – Mất 4 tháng 7, 1826) là một trong những người cha lập quốc của Hoa Kỳ, từng giữ chức phó tổng thống thứ hai của Hoa Kỳ từ năm 1797 đến năm 1801 và tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ từ năm 1801 đến năm 1809.

Jefferson là tác giả chính của Tuyên ngôn Độc lập. Ông là người đi đầu trong việc ủng hộ dân chủ, chủ nghĩa cộng hòa và quyền tự nhiên, đồng thời đưa ra các văn kiện và quyết định mang tính định hình ở cấp tiểu bang, quốc gia và quốc tế.

Jefferson sinh ra trong tầng lớp chủ đồn điền của Thuộc địa Virginia. Trong Cách mạng Hoa Kỳ, ông đại diện cho Virginia tại Đại hội Lục địa lần thứ hai, nơi đã nhất trí thông qua Tuyên ngôn Độc lập. Sự ủng hộ của

Jefferson đối với các quyền cá nhân, bao gồm tự do tư tưởng, ngôn luận và tôn giáo, đã giúp định hình nền tảng tư tưởng của cuộc cách mạng.

Jefferson giữ chức Thống đốc thứ hai của Virginia từ năm 1779 đến năm 1781. Năm 1785, Quốc hội bổ nhiệm ông làm Đại sứ Hoa Kỳ tại Pháp, nơi ông phục vụ từ năm 1785 đến năm 1789. Sau đó, Tổng thống George Washington bổ nhiệm Jefferson làm Ngoại trưởng đầu tiên của quốc gia, nơi ông phục vụ từ năm 1790 đến năm 1793. Năm 1792,


Cuộc tình của Tổng Thống Thomas Jefferson

Tổng thống Hoa Kỳ đã khiến em gái của vợ mình – một người nô lệ – mang thai sáu lần.

Vào tháng 9 năm 1802, một tờ báo tại Richmond, Virginia, đã đăng tải một bài viết khiến cả nước Mỹ chấn động. Tổng thống Hoa Kỳ, Thomas Jefferson – người đã viết nên câu nói “Tất cả mọi người đều được sinh ra bình đẳng” – đang giữ một người nô lệ của mình làm tình nhân. Tên cô là Sally, và ông đã có với cô nhiều người con. Vụ bê bối nổ ra ngay giữa nhiệm kỳ tổng thống của Jefferson. Các đối thủ chính trị của ông đã sử dụng câu chuyện này để hủy hoại ông. Các tờ báo đăng tải những bức biếm họa thô tục. Các bài giảng trong nhà thờ lên án ông. Tuy nhiên, Jefferson chưa bao giờ trả lời, chưa bao giờ phủ nhận, cũng chưa bao giờ xác nhận; ông chỉ im lặng. Và sự im lặng ấy kéo dài suốt 200 năm.

Điều mà tờ báo không đăng tải còn tồi tệ hơn. Sally Hemings không chỉ là nô lệ của ông; cô là em gái cùng cha khác mẹ của người vợ đã qua đời của ông. Hai người phụ nữ này có chung một người cha. Khi vợ Jefferson qua đời, ông thừa kế Sally. Lúc ấy cô mới 9 tuổi. Mười tám năm sau, Sally đã có sáu người con.

Tất cả đều với cùng một người đàn ông, tất cả đều là con của vị tổng thống, tất cả đều sinh ra trong thân phận nô lệ. Tất cả đều có làn da đủ sáng để có thể bị nhầm là người da trắng, tất cả đều mang gương mặt của Thomas Jefferson. Tác giả của Tuyên ngôn Độc lập cuối cùng lại có một gia đình bí mật với em gái của người vợ đã qua đời.

Làm thế nào một cô gái 16 tuổi lại mang thai con của người đàn ông quyền lực nhất nước Mỹ? Tại sao Sally lại đồng ý quay về từ Paris khi cô hoàn toàn có thể được tự do? Và làm thế nào họ có thể sống dưới cùng một mái nhà trong suốt 38 năm mà không ai can thiệp? Câu trả lời nằm ở những gì bắt đầu vào năm 1787, khi Thomas Jefferson đưa Sally Hemings đến Paris. Khi cô đến Paris ở tuổi 14 và ông 44 tuổi, khi cô vẫn hợp pháp là tài sản của ông, và ông đã hứa với cô một lời hứa sẽ thay đổi số phận của cả hai mãi mãi.
Đây là câu chuyện mà nước Mỹ đã cố gắng chôn vùi trong suốt hai thế kỷ. Câu chuyện chỉ có thể được xác nhận bằng ADN. Câu chuyện về vị tổng thống và người nô lệ – em gái của người vợ đã qua đời của ông.

Virginia, Hoa Kỳ, năm 1782. Thomas Jefferson lúc ấy 39 tuổi. Ông là luật sư, chính trị gia, kiến trúc sư và triết gia. Ông đã viết Tuyên ngôn Độc lập cách đó 6 năm. Ông được tôn trọng trên khắp đất nước.
Ông sở hữu một đồn điền tên là Monticello, hàng trăm mẫu đất, nơi hàng trăm nô lệ làm việc cho ông. Ông là một người có nguyên tắc. Hoặc ít nhất ông tuyên bố như vậy. Vào tháng 9 cùng năm đó, vợ ông, Martha, qua đời sau khi sinh đứa con thứ sáu. Jefferson đau khổ tột độ. Ông đã ở trong phòng suốt ba tuần.
Khi cuối cùng ông bước ra, ông đã đưa ra một lời hứa. Ông sẽ không bao giờ tái hôn. Ông sẽ không bao giờ thay thế Martha. Ông giữ lời hứa đó, nhưng tìm cách khác để không cô đơn. Martha Wales Jefferson đã mang đến cuộc hôn nhân một tài sản khá lớn: đất đai, tiền bạc và nô lệ. Trong số những nô lệ đó có gia đình Hemings, Elizabeth Hemings và các con của bà.

Một trong những đứa trẻ đó là Sally. Cô mới 9 tuổi khi Martha qua đời. Cô bé nhỏ nhắn, mảnh mai, da sáng, tóc dài và thẳng. Cô không trông giống một nô lệ châu Phi, bởi vì cô không hoàn toàn là người như vậy. Cha cô là John Wales, cha của Martha, cha vợ của Jefferson. Sally Hemings là em gái cùng cha khác mẹ của người vợ đã qua đời của Jefferson và lúc này trở thành tài sản của ông.

Trước khi tiếp tục câu chuyện, chúng tôi muốn hỏi quý vị một điều. Nếu quý vị chưa làm, xin vui lòng đăng ký kênh và bật chuông thông báo để không bỏ lỡ bất kỳ câu chuyện nào của chúng tôi. Ngoài ra, hãy cho chúng tôi biết trong phần bình luận rằng quý vị đang xem từ quốc gia nào. Điều này giúp chúng tôi rất nhiều để tiếp tục mang đến những câu chuyện không nên bị lãng quên.

Bây giờ, quay trở lại năm 1782, tại Monticello, đồn điền nơi Thomas Jefferson vừa thừa kế em gái 9 tuổi của người vợ đã qua đời, và nơi mà 5 năm sau ông sẽ đưa ra một quyết định thay đổi mãi mãi số phận của cả hai. Khi Martha Jefferson qua đời, Thomas thừa kế tất cả những gì bà mang đến cuộc hôn nhân.

Điều này bao gồm gia đình Hemings. Elizabeth Hemings là trưởng tộc. Bà lúc ấy 57 tuổi. Bà từng là nô lệ của John Wales, cha của Martha. Bà đã sinh 12 người con. Sáu người trong số đó là con của John Wales. Họ là anh chị em của Martha – anh chị em cùng cha khác mẹ, là nô lệ nhưng mang dòng máu của chính cha ruột mình. Một trong những đứa trẻ đó là Sally.

Cô đến Monticello khi mới 9 tuổi. Sally không phải làm việc ngoài đồng ruộng, điều này rất khác thường. Trẻ em nô lệ thường bắt đầu làm việc ngoài đồng từ 7 hoặc 8 tuổi. Nhưng Sally được phân công làm việc trong nhà chính. Cô làm người hầu, giúp việc bếp núc, phục vụ bàn ăn, dọn dẹp phòng; cô luôn ở gần gia đình da trắng của Jefferson. Đây cũng là điều bất thường.

Jefferson có quy định nghiêm ngặt về việc những nô lệ nào được vào nhà, nhưng Sally và anh chị em của cô lại khác biệt. Họ là người nhà của Martha, mang dòng máu Wales. Điều này mang lại cho họ một số đặc quyền mà các nô lệ khác không có.


Sally sinh khoảng năm 1773 và thuộc gia đình Hemings tại điền trang Monticello. Về pháp lý và quyền lực: Jefferson là chủ sở hữu. Sally là người bị sở hữu.

Các năm trôi qua. Sally lớn lên. Jefferson dành phần lớn thời gian cho chính trị. Ông liên tục di chuyển, giữ chức Thống đốc Virginia. Sau đó, ông được cử sang Pháp làm công sứ. Năm 1784, Jefferson rời đi Paris. Ông đưa theo con gái lớn Patsy, lúc ấy 11 tuổi. Ông để hai con gái nhỏ lại với người thân ở Virginia. Kế hoạch ban đầu là ở Pháp chỉ 2 năm. Ông đã ở lại 5 năm. Trong những năm đó, Jefferson sống như một nhà ngoại giao tại Paris. Ông có một ngôi nhà sang trọng trên đại lộ Champs-Élysées.

Ông tham dự các bữa tối với quý tộc Pháp, gặp gỡ các triết gia và nghệ sĩ, tận hưởng văn hóa châu Âu, nhưng vẫn nhớ các con gái. Năm 1787, ông quyết định đưa Polly – con gái 9 tuổi – sang Paris. Ông viết thư cho anh rể ở Virginia. Ông cần người đưa con gái bằng tàu biển, và cần một người phụ nữ trưởng thành đáng tin cậy để chăm sóc con gái trong hành trình sáu tuần.

Nhưng khi tàu cập bến London vào tháng 6 năm 1787, người đi cùng Polly không phải là một phụ nữ trưởng thành; mà là Sally Hemings. Lúc ấy cô 14 tuổi. Thuyền trưởng tàu đã viết thư cho Jefferson giải thích tình hình. Người phụ nữ được giao nhiệm vụ đi kèm Polly đột ngột bị ốm. Gia đình quyết định cử Sally thay thế.

Khi tàu cập bến, Sally Hemings – lúc ấy 14 tuổi – đã đặt chân đến châu Âu cùng với Polly (Maria) Jefferson. Sau một hành trình dài, họ đến Paris vào tháng 7 năm 1787. Thomas Jefferson, đang giữ chức Bộ trưởng Mỹ tại Pháp, đón con gái và người hầu trẻ tuổi này tại ngôi nhà sang trọng Hôtel de Langeac trên đại lộ Champs-Élysées.

Tại Paris, Sally được giao nhiệm vụ chăm sóc con gái Jefferson và làm người hầu trong nhà. Cô học tiếng Pháp, được mặc quần áo đẹp hơn và tận hưởng một mức độ tự do nhất định mà ở Virginia không có. Quan trọng nhất, theo luật pháp Pháp lúc bấy giờ, nô lệ có thể tự do yêu cầu được giải phóng – họ không bị ràng buộc bởi chế độ nô lệ như ở Mỹ. Sally và anh trai James Hemings (đang được đào tạo làm đầu bếp cho Jefferson) đều có cơ hội trở thành người tự do nếu họ chọn ở lại.

Theo hồi ký sau này của con trai Sally (Madison Hemings), chính trong khoảng thời gian hai năm rưỡi ở Paris (1787–1789), khi Sally khoảng 15–16 tuổi và Jefferson 44–45 tuổi, mối quan hệ thân mật giữa họ đã bắt đầu. Sally mang thai lần đầu tiên trong thời gian ở Paris.

Khi Jefferson chuẩn bị trở về Mỹ năm 1789, ông yêu cầu Sally đi cùng. Lúc này, Sally đã từ chối. Cô nhận ra mình đang ở trên đất tự do. Tuy nhiên, sau khi đàm phán, Sally đồng ý quay về Virginia với điều kiện Jefferson hứa sẽ dành cho cô “những đặc quyền đặc biệt” (extraordinary privileges) và cam kết sẽ trả tự do cho các con của họ khi chúng đủ 21 tuổi. Jefferson đã đồng ý với lời hứa này. 

Họ trở về Monticello. Sally tiếp tục sống trong tư cách là nô lệ của Jefferson suốt 38 năm tiếp theo, làm việc chủ yếu trong nhà chính. Bà sinh tổng cộng sáu người con với Jefferson trong khoảng thời gian từ 1795 đến 1808. Bốn người con sống sót đến trưởng thành: Beverly, Harriet, Madison và Eston. Tất cả các con đều có làn da sáng và ngoại hình rất giống gia đình Jefferson. 

Jefferson giữ lời hứa một phần: Ông không chính thức giải phóng Sally trong suốt cuộc đời mình, nhưng ông đã cho phép các con của bà được tự do khi trưởng thành (Beverly và Harriet rời đi vào những năm 1820, Madison và Eston được giải phóng theo di chúc của Jefferson năm 1826). Sally Hemings qua đời năm 1835 tại Charlottesville, sống cùng các con trai đã được tự do.

Câu chuyện này chỉ thực sự được xác nhận một cách khoa học vào năm 1998 qua kiểm tra ADN, cho thấy dòng họ nam của Jefferson trùng khớp với hậu duệ của con Sally. Trước đó, nó bị che giấu, phủ nhận hoặc tranh cãi gay gắt trong suốt hai thế kỷ.

Đây là một phần quan trọng trong lịch sử Mỹ, phản ánh sự phức tạp của chế độ nô lệ, quyền lực và mâu thuẫn trong lý tưởng của những nhà lập quốc.

Sự mâu thuẫn lớn trong con người Jefferson.

Đây là điều khiến câu chuyện trở nên nổi tiếng. Jefferson là tác giả câu nói:

"All men are created equal"
(Mọi người sinh ra đều bình đẳng)

Nhưng đồng thời ông:
sở hữu hơn 600 nô lệ trong suốt cuộc đời,
chỉ giải phóng rất ít người,
có quan hệ với một phụ nữ nô lệ.

Vì vậy các nhà sử học xem Jefferson là một nhân vật đầy mâu thuẫn:
góp phần khai sinh nền dân chủ Mỹ,
nhưng cũng là sản phẩm của xã hội nô lệ miền Nam nước Mỹ vào thời gian đó.

Sưu tầm và biên soạn
Tế Luân



                                            Jefferson and Sally

Trường Thi Lục Bát 320 Câu Thơ - Khói Sương Qua Động Chiều



Nhận Xét Về Trường Thi 
Khói Sương Qua Động Chiều - Bao gồm 320 câu thơ Lục Bát



        Khói Sương Qua Động Chiều là một bài thơ mang đậm không khí cổ phong và huyền cảm, nhưng đồng thời vẫn giữ được nét riêng của tác giả Tế Luân. Dù người đọc nhận thấy, thấp thoáng ảnh hưởng mỹ cảm từ thi giới của Phạm Thiên Thư, qua bài thơ (Động Hoa Vàng).

        Bài thơ Khói Sương Qua Động Chiều đã vượt ra khỏi sự mô phỏng để trở thành một không gian thơ riêng: bảng lảng khói sương, đầy ký ức, vô thường và nhân sinh.

        Điều nổi bật nhất của bài thơ là khả năng tạo hình ảnh. Những câu như:

        “Con chim thất lạc bay qua động chiều”
        “Suối khuya chảy ngược qua làn tóc bay”
        “Rêu xanh cũng biết đoạn trường nhớ nhau”

        Những câu thơ gợi hình này đều tượng trưng cho một thế giới nửa thực nửa mộng. Thiên nhiên trong bài thơ không chỉ là cảnh vật, mà dường như mang linh hồn và cảm xúc của con người. Chim, mây, sương, chuông chùa, bến sông… tất cả hòa vào nhau thành một cõi nhớ.

        Bài thơ cũng mang âm hưởng nhạc tính khá rõ. Nhịp thơ mềm, chậm, giàu âm vang, thích hợp với hướng phổ nhạc theo phong cách thiền ca hoặc ballad dân gian. Đặc biệt, các hình ảnh “khói sương”, “động chiều”, “con chim năm cũ”, “hiên nhà rêu xanh” đã trở thành những biểu tượng xuyên suốt, tạo nên tính liên kết cho toàn bài.

        Ngoài vẻ đẹp cổ phong, bài thơ còn mang một nỗi buồn nhân sinh rất nhẹ. Đó không phải nỗi buồn bi lụy, mà là cảm giác tiếc nhớ trước sự đổi thay của thời gian và kiếp người. Chính điều này làm cho bài thơ có chiều sâu và dư âm sau khi đọc xong.

        Nếu nhìn tổng thể, trường thi Khói Sương Qua Động Chiều. Là một trường thi có thế giới riêng: vừa có tình, vừa có thiền, vừa có ký ức Quê Việt,

        Khói Sương Qua Động Chiều đã hình thành một thế giới thơ riêng biệt.

        Điều quan trọng nhất là: Ý tưởng bài thơ đã có một dòng chảy nội tâm, rất
riêng biệt, thiên về ký ức, khói sương, cảm thức vô thường và vẻ đẹp hoang lạnh của miền quê Việt Nam.

        Trong bài thơ chúng ta nhận ra, chất thiền không còn là “thiền thoại”, mà trở thành một nốt lặng của đời người sau những biến động, chia xa và hoài niệm.

        Bài trường thi này có bốn nét riêng khá rõ: Một không gian rất Việt Nam, bờ dâu, quán cũ, cầu đá, bãi lau, hương cau, hiên chùa, tiếng chuông chiều…
        Chất tình ca bảng lảng nhưng không bi lụy.
        Chất thiền đi vào vô thường và ký ức hơn là giáo lý.
        Giọng thơ mềm, buồn, chậm — như khói tan trong chiều núi.

        Trường thi Khói Sương Qua Động Chiều có thể trở thành một tác phẩm thơ dài mang màu sắc riêng biệt, hòa giữa chất thiền, tình ca và ký ức miên quê Việt Nam.



Khói Sương Qua Động Chiều



Chiều nghiêng xuống ngọn thông già
Con chim thất lạc bay qua động chiều
Em ngồi chải tóc dáng yêu
Khói sương giăng nhẹ một chiều áo xanh

Mưa rơi từng giọt mong manh
Bay qua quán cũ long lanh mắt người
Con đường gió thổi mây trôi
Nghe như lá rụng bên đời cổ xưa

Bầy chim gọi giấc trăng thưa
Bến sông ai để hương đưa cuối mùa
Tay em lạnh ngón trong mưa
Chạm vào đã thấy gió lùa trăm năm

Đêm về thao thức trong chăn
Suối khuya chảy ngược qua làn tóc bay
Tôi đi nhặt giấc mộng đầy
Nghe trong cỏ mọc mới hay giấc thiền

Có khi nằm mộng thôi miên
Đêm khuya thức giấc thắp đèn phù vân
Tai nghe tiếng vọng mùa xuân
Nghe như tiếng gọi xa gần nhớ nhau

Mây xa dừng lại bãi dâu
Con chim năm cũ gọi cầu mưa sương
Tôi nghe đá cũng vô thường
Rêu xanh cũng biết đoạn trường nhớ nhau

Ngày nào em chạm niềm đau
Tình mang sầu muộn cúi đầu nghiêng vai
Xuân về áo lụa hoa mai
Thu nghiêng áo tím lược cài trên tay

Lối xưa còn bóng chim bay
Bờ dâu còn đọng vơi đầy ngày sau
Tôi đi nhặt cánh hoa cau
Nghe đêm rơi xuống ngọn sầu cỏ non

Có lần theo gót lối mòn
Tay hong khói lạnh môi còn hương khuya
Chuông chùa rơi mỏng bên kia
Sương giăng trắng cả tường bia mộ phần (đoạn 10)

Bây giờ em bước sang xuân
Con chim cũ cũng ngại ngần gió mây
Tôi nghe hoa rụng trên tay
Như nghe một kiếp đọa đầy vừa qua

Mai này dưới bóng trăng tà
Nếu tôi ngủ giữa hiên nhà rêu xanh
Xin em đừng gọi tên anh
Kẻo tan một giấc mộng lành thiên thu

Chiều buông chạm mái sương mù
Nhánh sông chảy chậm đường tu tuổi già
Em ngồi hong tóc bên hoa
Áo nghiêng một thoáng như tà khói bay

Mưa qua mềm ngọn cỏ may
Lối quen lá rụng phủ đầy dấu chân
Tiếng ai khe khẽ cuối sân
Làm nghiêng bóng nắng mấy lần heo may

Tôi nghe mùa cũ đâu đây
Rơi trên bậu cửa lạc bày tiếng chim
Cơn mộng đến giữa im lìm
Như mây mắc lại bên thềm rêu xanh

Cỏ đêm nghiêng ngả mong manh
Trang thơ vàng úa không thành lời xưa
Bàn tay chạm hạt mưa thưa
Mà nghe lạnh cả chiều đưa cuối trời

Em đi ngang một kiếp người
Mắt buồn như thể mưa rơi bên thềm
Tôi về nhặt sợi tóc mềm
Nghe trong quán vắng tiếng đêm chạm tường

Con đường còn đọng hơi sương
Hàng cây đứng lặng bên đường lao xao
Trăng khuya rớt xuống bờ ao
Làm rung mặt nước lao đao bóng người

Có khi đời quá chơi vơi
Ta như chiếc lá giữa trời liêu xiêu
Nửa đêm nghe tiếng chuông chiều
Mới hay cát bụi cũng nhiều nhớ thương

Mai sau tóc bạc bên đường
Xin còn giữ chút dư hương cuối mùa
Nếu không gặp lại trong mưa
Thì xin giữ bóng người xưa trong lòng (đoạn 20)

Em ngồi cuối bãi ven sông
Một làn khói nhạt bay vòng hoàng hôn
Vai gầy nghiêng bóng cuối thôn
Áo bay lụa mỏng soi hồn ao thu

Từ em sương khói âm u
Con sông chảy chậm, sương mù bến xa
Mây nghiêng xuống phía hiên nhà
Nghe chuông chùa vọng như là cố nhân

Thì thôi giữ chút thanh tân
Cho đêm ở lại một lần trong tim
Đường xưa lá đổ im lìm
Bước chân ai khuất bóng chìm đêm thanh

Ta về vá lại mong manh
Nghe trăng rơi xuống ngọn ngành hanh hao
Tiếng chim thức giữa đêm sao
Bay qua quán vắng bên rào tre thưa

Có người gánh nắng chiều đưa
Qua cầu đá cũ như vừa chiêm bao
Áo ai còn đọng hương cau
Mà nghe gió lạnh thấm vào mùa xa

Đôi khi ngồi dưới hiên nhà
Thấy mây đi chậm như là nhớ ai
Con thuyền ngủ giữa sông dài
Nước trôi lặng lẽ bóng ngoài bãi lau

Ta đi từ buổi ban đầu
Mang theo chiếc lá úa màu nhân gian
Qua bao dâu bể hợp tan
Mới hay cát bụi cũng mang nỗi buồn

Có hôm lên tận đầu non
Nghe thông reo giữa hoàng hôn tím mờ
Nhặt viên sỏi nhỏ vu vơ
Ném vào khe suối bất ngờ trăng rung

Người về cuối bến mông lung
Ta ngồi hong lại nhớ nhung năm nào
Chim khuya đậu cuối hàng rào
Làm nghiêng một thoáng chiêm bao bên trời

Mai này tóc trắng chơi vơi
Nếu còn gặp giữa mưa khơi phố buồn
Xin đừng chạm cánh chuồn chuồn
Cho hồn cỏ dại cuống cuồng đi hoang (đoạn 30)

Em đi khoác tấm áo choàng
Để anh đứng đợi bóng hoàng hôn xưa
Có ai vét cạn cơn mưa
Cho trăng khỏi lạc bóng dừa quạnh hiu

Em về tóc ướt sương chiều
Môi yêu rung nhẹ bao điều chưa phai
Từ em cỏ úa nằm dài
Mùa thu rơi mất theo mây cuối ngàn

Guốc xưa lẫn tiếng chim hoang
Đường về lối trúc bắc ngang nhịp cầu
Ngồi nghe nước chảy qua mau
Mà thương bóng núi bạc đầu bên sông

Có con cá nhỏ ngược dòng
Bơi qua khe đá lạnh trong mây mù
Nửa đường gặp áng sương thu
Ngỡ đâu mây trắng ngủ ru lưng đèo

Mai sau mái cỏ cheo leo
Ta hong tơ lụa bến nghèo quạ kêu
Em còn giữ nét yêu kiều
Hay hương tóc đã phiêu diêu cuối trời

Ta lên triền núi rong chơi
Nhặt bông hoa dại bên đồi cỏ sương
Soi trong đáy nước ven mương
Ngỡ như gặp lại cố hương kiếp nào

Bước chân qua lối đường vào
Áo ai còn đọng hương cau đầu mùa
Đi hoài qua mấy nắng mưa
Mới hay nhân thế cũng vừa khói bay

Ta ngồi hỏi cánh chim gầy
Vì sao lưu lạc giữa ngày hư vô
Chim nghiêng bóng xuống mặt hồ
Như nghe chiếc lá tình cờ thở than

Nước trôi vào giấc mơ màng
Bến xưa còn đọng cỏ vàng dấu hoa
Có người đứng tận bờ xa
Nghe con đò cũ ngân nga mái chèo

Từ hôm em bỏ đi theo
Chiếc khăn ngày cũ phai theo bụi đường
Ta về mở lại dư hương
Nghe màu áo cũ còn vương cuối chiều (đoạn 40)

Vang xa điệu lý tiếng tiêu
Ngõ hồn như thể chạm điều hư vô
Phấn son vừa điểm môi tô
Mới hay cát bụi cơ hồ có nhau

Đường xưa hoa cỏ bạc màu
Sương giăng lạnh cả nhịp cầu quạnh hiu
Chim khuya gọi phía tiêu điều
Nghe như tiếng vọng những chiều xa xăm

Cuối mùa ta trở lại thăm
Bờ xưa hoa dại âm thầm nở hoa
Con đò vẫn ngủ bên phà
Mà người năm cũ đã xa cuối trời

Trúc thưa ngả bóng bên đời
Em ngồi tựa cửa ngắm trời khói mây
Đường chiều trải bóng nơi này
Mùa xuân thảm cỏ phủ đầy gấm hoa

Đường xa lẫn tiếng chim ca
Người qua bến vắng áo tà nghiêng vai
Giàn hoa cũ phủ sắc mai
Trăng treo đỉnh núi rót đầy chén sương

Nơi xóm vắng ánh tà dương
Mây bay thấp thoáng bên đường cỏ lau
Đêm khuya lửa tắt canh thâu
Ta nghe giọt nhớ nhỏ vào quạnh hiu

Đợi em như đợi sương chiều
Đậu trên bãi vắng những điều mong manh
Áo xưa thuở trước còn xanh
Mà nghe năm tháng phủ quanh bụi đời

Khói trầm thơm giữa chơi vơi
Tiếng chuông rất nhẹ rơi ngoài hiên xưa
Vườn chùa đọng giọt mưa thưa
Trăng nghiêng mái ngói như vừa ghé qua

Mai vàng nở phía hiên xa
Mưa bay lạnh mỏng nhạt nhòa hương đêm
Thu đông còn ngủ bên thềm
Cánh hoa rơi chậm như quên lối về

Cổng làng mở phía triền đê
Tiếng gà vọng sớm gọi về xóm mai
Ta lên chùa cũ thương hoài
Nghe sương lạnh phủ trên vai áo người (đoạn 50)

Chuông ngân xuống phía chân trời
Khói chiều tan giữa khoảng đời hư không
Ta về giấu một nhành bông
Mà nghe cỏ mọc đầy lòng nhớ nhung

Bóng trăng xa vắng ngàn trùng
Tiếng đàn ai gảy hòa cùng gió sương
Gió đưa sáo trúc mười thương
Về hong ký ức nhún nhường làm sao

Đồi hoa sim tím lao xao
Nửa như muốn gọi, nửa trao gợi tình
Ta cùng em chung bóng hình
Mà sao gặp lại ngỡ mình chiêm bao

Tình cờ như gió qua mau
Như mây ngủ tạm trên đầu núi xanh
Tỉnh ra giấc mộng mong manh
Nghe con chim cũ gọi quanh bụi đường

Lá sen còn đọng hơi sương
Áo nâu ai phủ đoạn trường gió bay
Tay ai nâng chiếc nón đầy
Che nghiêng một khoảng heo may cuối trời

Đôi môi hồng nhạt lả lơi
Tiếng cười tan nhẹ hoa tươi rượu nồng
Mắt em sâu tựa trời đông
Làm nghiêng bóng núi trong lòng chiều xa

Tóc em thơm mùi cỏ hoa
Bàn tay khẽ chạm nhánh ngà mong manh
Bước chân rất nhẹ qua nhanh
Mà nghe động cả trời xanh bốn mùa

Tiếng em khúc khích vui đùa
Ru hồn lữ khách gió lùa hơi sương
Em như bóng nguyệt trên nương
Ta như cánh bướm bình thường tuổi thơ (đoạn 57)

Một đêm nằm ngủ trong mơ
Nghe như tiền kiếp câu thơ thượng thừa
Cánh sen thoảng mấy hương xưa
Nụ như dấu Phật đong đưa bến người

Non xanh khoác áo chơi vơi
Con chim lạc tuyết giữa trời vụt bay
Tiếng kêu rơi xuống bàn tay
Ngón buông chạm gió, hao gầy cánh hoa (đọan 60)

Em qua cửa khép hiên nhà
Cành lan cuối gió nở ra mấy mùa
Ngày em rũ áo sương mưa
Uyên ương đứng đợi rậu thưa nhạt nhòa

Người về khép cửa thiền tòa
Sớm mai quét lại hiên chùa dấu sương
Thu rơi theo chiếc lá vương
Thoảng trong hơi thổi mùi hương cũ còn

Một sư đứng giữa núi non
Trong tâm bật sáng hoàng hôn cuối chiều
Bàn tay chạm cõi phiêu diêu
Giữ nghiêng tịch lặng một điều vô sinh

Một dòng hoa nổi vô hình
Một dòng hoa nở trong mình lặng thinh
Cánh nào mở cõi vô minh
Mà tan băng tuyết một mình hư không

Thư em gửi giữa mênh mông
Hương lan như gió nụ hồng nở đêm
Áo em thoảng sắc êm đềm
Ngón tay chạm nhẹ cũng mềm cõi xa

Bước chân khép cửa ta bà
Ai qua bến cũ còn là dấu xưa
Non xanh hỏi gió đong đưa
Trăm năm còn lại bóng mưa động vàng

Ngày xưa bên dậu hoa vàng
Chiều nghiêng chõng cũ ngó sang cuối trời
Năm sau người đã xa rồi
Ta ngồi lắng lại mưa rơi giậu buồn

Thềm xưa đậu cánh chuồn chuồn
Bóng hoa năm cũ cội nguồn nhớ xưa
Trẻ con chạy giữa nắng mưa
Nhặt thanh kiếm gãy như vừa chiêm bao

Non cao cánh nhạn nghiêng trao
Sông dài khép lại nhịp chèo bãi xa
Người dệt lụa giữa sương tà
Đêm nghe mưa rụng vọng hòa tiếng ngân

Núi nghiêng, suối đổ dâng tràn
Bên hang đá lạnh mưa ngàn lưa thưa
Bình trà thoáng vị sen xưa
Mà trong một thoáng, còn thừa khói bay 

Sáng nghe lan rụng hiên gầy
Đường mây khép lại heo may cuối trời
Chim bay rã cánh chơi vơi
Như không còn biết trả lời về đâu

Mây không tụ núi không sâu
Mà lòng vẫn nặng một màu khói sương
Đêm đêm gõ nhịp vô thường
Nghe trong đá cũng đoạn trường vọng ngân

Gối tay nằm mộng phân vân
Đá như tụng niệm phù vân bụi hồng
Ngày mai trời đất thong dong
Chỉ còn tiếng gió qua đồng cỏ bay

Thiên lý hoa nở đóa say
Lên non nhặt cỏ dựng ngày khói mây
Xuống sông tát giọt hao gầy
Nghe chim khuya đậu trên tay lặng nhìn

Khách qua một chuyến phù sinh
Hái chùm sim tím gửi mình làm vui
Uống chung giọt nước ngậm ngùi
Mà nghe đá núi cũng trôi giữa trời

Vào hang khép lại cuộc đời
Động Chiều Sương Khói xa vời cõi tiên
Nếu mai ai đứng bên triền
Xin nghe gió gọi một miền đã tan

Hoa vàng không dễ vội tàn
Chỉ còn sương khói với nàng hoa trôi
Người qua chỉ thế mà thôi
Bến sông còn lại một lời gió ngân (đoạn 77)

Người xa đừng ngại phân vân
Động Chiều xin giữ một vầng mây qua
Múc nước suối nấu bình trà
Thả vào tâm một đóa hoa an tường

Tìm vách đá nhập vô thường
Để tâm nở đóa hoa thương mộng hằng
Trời đêm đèn sáng hoa đăng
Tìm nhau xin hỏi trời hằng hà sao

Động chiều gợi nhớ phương nào
Thiện tâm một cõi đường vào giấc say
Trần gian trong cõi mộng này
Hữu duyên giữ mộng trên tay nụ hồng (đoạn 80)

Tế Luân
Trường thi lục bát với 320 câu thơ
Khói Sương Qua Động Chiều
05-25-26



KHÓI SƯƠNG QUA ĐỘNG CHIỀU (Phần 1)


Khói Sương Qua Động Chiều là phần mở đầu của trường thi cùng tên gồm hơn 320 câu thơ lục bát của thi sĩ Tế Luân. Từ những vần thơ mang đậm chất thiền, chất mộng và nỗi hoài niệm nhân sinh, tác giả đã tự chuyển thể thành ca khúc với phần hòa âm được thực hiện bằng công nghệ Suno AI, mở ra một hành trình âm nhạc đầy chất thơ và suy tưởng.

Ca khúc đưa người nghe bước vào một không gian bảng lảng khói sương, nơi thời gian dường như chậm lại giữa tiếng mưa rơi, bóng thông già, dòng sông cũ và những kỷ niệm xa xăm còn đọng lại trong tâm thức. Hình ảnh người con gái ngồi chải tóc bên chiều sương, cánh chim lạc bầy, tiếng chuông chùa trong đêm vắng hay những mùa hoa đã qua trở thành những biểu tượng của ký ức, của tình yêu và của sự vô thường trong kiếp nhân sinh.

Với âm hưởng nhẹ nhàng, sâu lắng và giàu chất thiền, ca khúc mở đầu cho một trường ca âm nhạc được hình thành từ thơ, nơi mỗi câu hát là một cánh cửa dẫn người nghe bước vào miền ký ức, mộng tưởng và những suy tư về thân phận con người trước dòng chảy vô tận của thời gian.

Xin mời quý vị cùng lắng nghe và đồng hành trên hành trình đi qua những miền khói sương của ký ức, để tìm thấy đâu đó hình bóng của chính mình trong những câu thơ và giai điệu của Khói Sương Qua Động Chiều.





Một Đời Trôi Nổi - Thiền Khúc Tế Luân



Đôi Dòng Suy Ngẫm Khi Tuổi Già


Tế Luân

        Khi bước vào tuổi tám mươi, tôi chợt bàng hoàng nhớ lại một thời đã qua. Tuổi trẻ nóng bỏng, bồng bột và nhiều hoang đường, tôi đã có không ít lỗi lầm trong những hành động thiếu suy nghĩ, trong lời nói lúc nóng giận, vô tình làm mất lòng nhiều người. Bây giờ ngồi nghĩ lại, mới thấy sự hối tiếc và ân hận đã quá muộn màng.

        Tôi vội vã quay về, không phải để trốn chạy cuộc đời, mà để nhặt lại từng chiếc lá từ bi đã đánh rơi giữa những giông bão nhân sinh. Giữa nắng vàng trải lối đi, giữa những ưu phiền dần lùi xa phía sau lưng, tôi tìm lại sự lặng yên trong tâm hồn.

        Tôi trở về từ những dâu bể oan khiên, từ lòng trắc ẩn tuy muộn màng nhưng chân thật. Và giờ đây, tôi muốn đem quãng đời còn lại đổi lấy một giấc thiền sâu, một cõi tĩnh lặng bình yên.

Ngồi lặng im ngắm mây trôi, gió thoảng, tâm hồn an nhiên giữa hương trà sen nhẹ lan trong gió. Trong khoảnh khắc ấy, cát bụi dường như hóa thành chân như, và lòng tôi chạm đến một sự bình an cô đọng, sâu xa.

        Từ lâu, tôi vẫn mắc kẹt giữa hai bờ được và mất. Cố giữ thì đau, buông rơi lại thấy lòng chơi vơi. Nhưng càng nắm chặt, tâm càng mỏi mệt. Chỉ khi thật sự biết buông xuống, tôi mới tìm lại được chính mình.

        Tôi chợt nhận ra, điều nặng nề nhất không phải là hơn thua, thắng bại hay mất còn, mà chính là cái tâm chưa biết buông xả. Chỉ khi hiểu rằng “biết đủ là đủ”, biết dừng lại trước những ham muốn vô tận, lòng người mới nhẹ đi, và cuộc đời cũng trở nên an lành hơn mỗi ngày.

        Tôi hiểu ra một điều giản dị: con người cần sống chậm lại, bớt xét đoán hơn thua, gạt bỏ những bộn bề suy nghĩ để tâm hồn có thêm khoảng trống — đủ rộng cho sự tha thứ, cho lòng bao dung và cho tình yêu chân thật được ở lại lâu dài.



Một Đời Nổi Trôi

Tám mươi năm gió bụi qua rồi
Ngồi đếm lại một đời nổi trôi
Bao lời nói ngông cuồng thời trẻ
Lỡ làm đau người ở quanh tôi.

Ta trở về nhặt cánh từ bi
Rơi lạc giữa đường đời dâu bể
Nhặt từng chút yêu thương rất khẽ
Giữa hoàng hôn phủ bóng đêm mê.

Một chén trà thơm ngát khói sương
Mây lặng lẽ theo dấu đoạn trường
Tiếng gió nhẹ như lời Phật dạy
Hãy buông rơi để thấu vô thường.

Giữ trong lòng nên mãi đa đoan
Buông chẳng nổi nên đời mỏi mệt
Được và mất như dòng sông chảy
Có nghĩa gì khi tóc bạc phai.

Ta học cách im lặng với đời
Không hơn thua, không còn hờn trách
Để tâm thức như hồ thu lặng
Soi bóng mình trong cõi chân như.

Rồi ngày kia khép mắt thiên thu
Mang theo chỉ tấm lòng thanh thản
Không tiếc nuối những điều mộng ảo
Chỉ tình thương ở lại mà thôi.

Tế Luân


Đường Về An Nhiên

Ở đâu tâm ngủ giấc an nhiên
Để suối yêu thương chảy dịu hiền
Dạo khúc tình ca xuân bất tận
Âm vang còn đọng chút hương thiền.

Chốn nào có bóng mát yêu thương
Nương tựa bình an suốt đoạn trường
Tiếng gọi êm đềm mơ quyến rũ
Vang lên trời rộng cõi vô thường.

Trên trời có áng mây hư ảo
Vẽ lại ngàn năm bức cổ thi
Ở đó bóng ta là hiện kiếp
Để luân hồi chọn lấy đường đi.

Cớ sao ta vẫn bước lang thang
Dệt mối trần gian giấc mộng vàng
Gió núi, mây ngàn, mưa trút nước
Giục ta về kịp đón xuân sang.

Ta về từ cõi đời tan tác
Nhiệt huyết thời trai đã lãng quên
Bây giờ thân xác già hơn trước
Giọt lệ thương thầm nhớ gọi tên.

Tế Luân
05-21-26



Giới Thiệu Thiền Khúc Một Đời Nổi Trôi

        Thiền khúc Một Đời Nổi Trôi, thực hiện qua làn điệu Ballads Rumba, mang âm hưởng dân ca Quan Họ Bắc Ninh hòa quyện cùng chất thiền ca sâu lắng, như tiếng lòng trầm mặc giữa hương trà, lãng đãng bóng sương mù, và bóng chiều tĩnh lặng.

        Thiền khúc “Một Đời Nổi Trôi” là lời tự sự nhẹ nhàng của một con người sau bao năm đi qua dâu bể cuộc đời, giờ đây ngồi lặng lẽ nhìn lại những tháng năm đã qua bằng tâm thế bình an và buông xả. Khi bước vào tuổi 80, không còn hơn thua hay oán trách, lời bài hát là hành trình trở về với chính mình — nơi con người học cách buông bỏ những muộn phiền, mở lòng tha thứ và giữ lại yêu thương như điều quý giá cuối cùng của một đời người. “Một Đời An Nhiên” không chỉ là một khúc nhạc, mà còn là lời nhắc nhở dịu dàng rằng: sau tất cả những nổi trôi của nhân thế, bình an trong tâm hồn mới là nơi đáng để quay về.




Lê Tuấn


Tiễn Biệt Thi Sĩ Phạm Thiên Thư



Tiễn Biệt Thi Sĩ Phạm Thiên Thư

        Tôi không có cơ duyên quen biết Phạm Thiên Thư, chỉ được đọc qua những tác phẩm của ông và cảm nhận nơi đó một tài năng thi ca hiếm có, một thi sĩ đích thực.
        Thơ ông, khi được Nhạc Sĩ Phạm Duy phổ nhạc, như được chắp thêm đôi cánh để bay cao và lan tỏa sâu rộng hơn trong lòng người thưởng thức.
        Với riêng tôi, ông để lại nhiều cảm mến và dư âm khó phai. Sự ra đi của Phạm Thiên Thư khép lại một hành trình thi ca thấm đẫm thiền vị và nhân sinh.
        Ông không chỉ là thi sĩ, mà còn là người lữ hành trên con đường tâm linh, để lại những vần thơ nhẹ như sương khói mà sâu như cõi đạo.

        Bài thơ “Tiễn Biệt Thi Sĩ” của Tế Luân là nén tâm hương tiễn biệt, mượn ý từ thi phẩm Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng, gợi lại hình ảnh “hoa vàng” như biểu tượng của chân như, một cõi đi về thanh tịnh.
Lê Tuấn





Tiễn Biệt Thi Sĩ
Phạm Thiên Thư


“Lên non kiếm nụ hoa vàng
Như Lai thường trụ, mơ màng cõi tiên”
Đêm mơ về cõi nhân duyên
Thân trao thiền định giữa miền nhân gian.

Kiếp thân mặc sĩ lang thang
Lên non tìm động, bàng hoàng đường tu
Tìm trong nhân quả mịt mù
Xác thân tạm gửi, sương thu phận này.

Không ai nhớ nụ hoa gầy
Không ai uống cạn đêm đầy trăng thâu
Để ta tát cạn mạch sầu
Để ta xuống tóc, qua cầu Chùa tu.

Làn sương trắng phủ ao thu
Đời ta cũng đủ bụi mù trần gian
Còn đâu nữa để than van
Thôi thì tạm biệt, hoa vàng ngủ yên.

Tế Luân
Xin Tiễn Biệt Thi Sĩ Phạm Thiên Thư




Ghi Chú:

Hai Câu thơ “Lên non kiếm nụ hoa vàngNhư Lai thường trụ, mơ màng cõi tiên” Tôi mượn ý của bài thơ Đưa Em Tìm Động Hoa Vàng của Phạm Thiên Thư

Happy Mother's Day - Ngày Lễ Mẹ

 


Happy Mother's Day

Xin chia sẻ một bài thơ, và bài thơ nay tôi đã soạn thành một ca khúc
Theo giai điệu Ballads pha chút âm hưởng Dân Ca Quan Họ.
Lê Tuấn


Lời Tựa

        Dâng Mẹ Ngàn Đóa Hoa
        Có những tình yêu trong đời không cần gọi thành tên, bởi nó đã trở thành hơi thở, thành ký ức và thành nơi để con người tìm về sau mọi bão giông.
        Tình mẹ là một tình yêu như thế, cao thượng, âm thầm, bao dung và vô điều kiện.
“Dâng Mẹ Ngàn Đóa Hoa” được viết như một lời tri ân dịu dàng, để vinh danh cho những người mẹ đã đi qua cả cuộc đời trong hy sinh và nhẫn nại.
        Từ những lời ru bên nôi thuở ấu thơ, đến mái tóc dần pha bạc theo năm tháng, mẹ vẫn luôn là dòng sông ngọt lành nuôi lớn tâm hồn con bằng yêu thương vô tận.
        Ca khúc mang âm hưởng ballad pha chất dân ca Quan họ Bắc Ninh, với những câu luyến nhẹ nhàng và da diết như tiếng gọi từ ký ức quê nhà.
        Đó không chỉ là tiếng lòng của riêng một người con, mà còn là nỗi niềm chung của biết bao người khi nghĩ về mẹ trong những chiều xa xứ,
trong những mùa lễ Mẹ, hay trong những khoảnh khắc chợt nhận ra rằng:
“Mẹ là nhà… là tất cả đời ta.”
        Xin được gửi ca khúc này như một bó hoa tinh thần dâng lên tất cả những người mẹ, những người đã dành trọn đời mình để yêu thương mà không bao giờ đòi hỏi nhận lại. Và cũng xin gửi đến những ai còn mẹ một lời nhắn nhủ dịu dàng: hãy yêu thương mẹ khi còn có thể, bởi thời gian không bao giờ quay trở lại.

        Trân trọng.

        Lê Tuấn


Dâng Mẹ Ngàn Đóa Hoa

Á . . . À Ơi… ơi à…
Ngày của mẹ… con về…
Ngày của mẹ, con dâng lên hoa thắm
Gửi tình con theo năm tháng dâng đầy
Từng cánh mỏng như lời con năm ấy
Ơn của mẹ, con giữ suốt đời này.

Mẹ là gió ru con qua giấc ngủ

Là dòng sông bồi đắp những yêu thương
Con lớn lên giữa ngàn lời ấp ủ
Bóng mẹ hiền soi sáng mọi con đường.

Bao năm tháng… tóc mẹ dần pha bạc

Những nhọc nhằn in dấu giữa thời gian
Con cúi đầu… nghe tim mình se thắt
Thương mẹ nhiều… chẳng dám nói than van…

Con gửi mẹ ngàn đóa hoa trong gió

Mang yêu thương trải khắp cả trời xa
Dù đi mãi… lòng con luôn ghi nhớ
Mẹ là nhà… là tất cả đời ta…

Tình yêu mẹ bao la như biển rộng

Sáng như mặt trời… dịu tựa mây bay
Ai còn mẹ… xin đừng làm mẹ khóc
Đừng để buồn… giọt lệ ướt bàn tay…

Ngày của mẹ, xin đừng ai lặng lẽ

Hãy ôm mẹ, dù chỉ một lần thôi
Ai còn mẹ… là niềm vui rất khẽ
Đừng để buồn rơi xuống giữa đơn côi.

Con gửi mẹ ngàn đóa hồng trong gió

Thắm ân tình theo năm tháng dâng đầy
Dẫu cuộc đời muôn trùng xa cách ngõ
Lòng vẫn về… bên mẹ những đêm say…

Ơi người ơi… con thương mẹ biết mấy…

Như trăng rằm soi sáng cả đời con…
Dẫu đi xa… qua bao miền gió cát…
Tiếng mẹ hiền… vẫn ấm mãi trong hồn…

Con gửi mẹ ngàn đóa hoa trong gió

Mang yêu thương trải khắp cả trời xa
Dù đi mãi… lòng con luôn ghi nhớ
Mẹ là nhà… là tất cả đời ta…

Xin gửi đến mẹ ngàn đóa hoa hồng

Thấm sương long lanh… ướt cả nỗi lòng
Lời nghẹn ngào… trong ngày lễ của mẹ
Buộc vào hoa… gửi trọn những chờ mong…

Ơi à… ơi a…

Mẹ ơi…

Tế Luân


Xin Mời Thưởng Thức Ca Khúc



Mẹ Về Cõi Phật - Khúc Tiễn Biệt Trong Thầm Lặng

 


Tưởng Niệm Cụ Bà Ngô Thi Quảng 
Lê Tuấn




Tưởng Niệm Cụ Bà Ngô Thi Quảng
Ngày 2 tháng 5 năm 2026, một ngày buồn cho toàn gia đình.


Cụ bà Ngô Thị Quảng đã thanh thản rời xa cõi trần gian, hưởng đại thọ 103 tuổi.
Một cuộc đời dài lâu, trọn vẹn và đầy phúc đức. Sự ra đi của cụ để lại niềm tiếc thương sâu sắc trong lòng gia đình, con cháu và tất cả những ai từng có duyên gặp gỡ.

Lúc sinh thời, cụ là người Mẹ hiền lành, đức độ, một lòng hướng về Phật Pháp.
Nếp sống giản dị, chân thành của cụ như một dòng suối mát lành, âm thầm nuôi dưỡng tình người và lan tỏa sự an lành đến những người xung quanh.

Ai từng gặp cụ cũng đều cảm nhận được nơi cụ một tấm lòng bao dung, một ánh nhìn hiền hậu và một cách sống gần gũi, chân phương.
Đối với gia đình, cụ là mái nhà che chở, là gốc rễ vững bền cho bao thế hệ.
Tình yêu thương của cụ không phô trương, nhưng sâu sắc và bền bỉ như đất mẹ,
nuôi dưỡng con cháu nên người. Đối với xóm giềng, cụ là người hàng xóm đáng kính,
luôn sống chan hòa, để lại nhiều tình cảm tốt đẹp.

Hôm nay, tiễn đưa cụ về cõi vĩnh hằng, chúng con xin cúi đầu tri ân một đời sống đẹp,
một tấm gương sáng về đạo đức và lòng từ bi. Dù cụ đã đi xa trong cõi vĩnh hắng,
nhưng hình ảnh và những giá trị cụ để lại sẽ mãi còn trong ký ức và trong cách sống của mỗi người thân.

Nguyện cầu hương linh cụ an nhiên nơi cõi Phật. An nghĩ trên cõi Niết Bàn.


Mẹ Về Cõi Phật


Mẹ đi nhẹ bước giữa vô thường
Trăm năm khép lại một đoạn trường
Nụ cười hiền hậu còn vương vấn
Như áng mây chiều nhẹ khói sương.

Mẹ sống trọn đời trong lặng lẽ
Tâm lành như suối chảy yêu thương
Một lòng hướng Phật không vướng bận
Để lại cho đời ánh đạo hương.

Con lớn lên từ vòng tay mẹ
Nghe lời ru giữa những đêm trường
Dẫu đời có lúc nhiều giông bão
Mẹ vẫn là nơi để tựa nương.

Giờ mẹ về nơi miền tịnh độ
Chuông chùa ngân vọng khắp mười phương
Con xin thắp nén lòng thành kính
Gửi trọn niềm thương đến cõi thiêng.

Mẹ nhé, đường xa xin an nghỉ
Cõi Phật từ bi đón mẹ hiền
Dẫu cách âm dương ngàn dặm biệt
Tình con vẫn mãi đội ơn trên.

Lê Tuấn
Kính viếng Mẹ Hiền
Cụ Bà Ngô Thị Quảng 

Xin mời thưởng thức ca khúc


Video Tang Lễ Cụ Bà Ngô Thi Quảng. Tại Việt Nam





Sa Chi Lệ - Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30-04-2026

 

Sa Chi Lệ - Số Đặc Biệt Tưởng Niệm Ngày Quốc hận 30 tháng 4, 2026. Những bài phổ biến trên trang hangoc2020.blogspot


SỐ ĐẶC BIỆT DIỄN ĐÀN TVBQGVN QUỐC HẬN 30-4-2026 VIỆT NAM CỘNG HÒA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÁP ĐỊNH THÔNG ĐIỆP TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2026

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/so-ac-biet-dien-tvbqgvn-quoc-han-30-4.html

 

**

DIỄN ĐÀN TRƯỜNG VBQGVN 1 SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HÂN 30-4-2026 NĂM 51 NĂM NỖI ĐAU NGHIỆT NGÃ GIẶC THẦY CHÙA THEO DÒNG LỊCH SỬ

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/dien-truong-vbqgvn-1-so-ac-biet-quoc.html

 

**

DIỄN ĐÀN TRƯỜNG VBQGVN 2 SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HÂN 30-4-2026 BÍ MẬT ĐỘNG TRỜI VC BÁN NƯỚC-KHÔNG THỂ THA THỨ-CT TRẦN QUANG KHÔI 5 NGÀY

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/dien-truong-vbqgvn-2-so-ac-biet-quoc.html

 

**

SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4-2026 QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA VẪN CHIẾN ĐẤU Ở GIỜ THỨ 25 SỰ THẬT HUYỀN THOẠI ĐỊA ĐẠO CỦ CHI...

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/dien-truong-vbqgvn-3-so-ac-biet-quoc.html

**

VĂN THƠ LẠC VIỆT SỐ ĐẶC BIỆT SÁNG TÁC VĂN THƠ  & Sinh Hoạt Tưởng Niệm Năm Mươi Mốt Năm (51) Tháng Tư Đen! Tại San Jose

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/van-tho-lac-viet-so-ac-biet-sang-tac.html

 

**

KÍNH GIỚI THIỆU DIỄN ĐÀN VÌ DÂN VIỆT NGÀY ĐẠI TANG 30 THÁNG 4,  NGÀY TƯỞNG NIỆM TRÊN 4 TRIỆU DÂN LÀNH VN NGÀY ĐẠI TANG 30 THÁNG 4,  NGÀY TƯỞNG NIỆM TRÊN 4 TRIỆU DÂN LÀNH NƯỚC VIỆT ĐÃ MẠNG VONG TỨC TƯỞI

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/so-ac-biet-quoc-han-30-4-2026-kinh-gioi.html

**

SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4-2026 KÍNH GIỚI THIỆU SÁNG TÁC ẤN TƯỢNG CỦA THI NHẠC SĨ ĐA TÀI TUẤN LÊ THÁNG TƯ DÒNG NƯỚC LŨ CỦA KÝ ỨC

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/so-ac-biet-quoc-han-30-4-2026-kinh-gioi_26.html

***

SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4-2026 NỮ SĨ HÂN TRINH Lễ Thượng Kỳ và Tưởng Niệm Quốc Hận Toronto City Hall, Canada

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/so-ac-biet-quoc-han-30-4-2026-nu-si-han.html

**

SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4-2026 TRANG SINH HOẠT CĐNVHN CHU LYNH THÔNG ĐIỆP- CALI-ÚC CHÂU-ÂU CHÂU- TAMPA

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/so-ac-biet-quoc-han-30-4-2026-trang.html

 

**

SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4-2026 TRANG HỒI KÝ LÊ XUÂN NHUẬN & THƠ SONG NGỮ THANH THANH

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/so-ac-biet-quoc-han-30-4-2026-trang-hoi.html

**

TRANG TRUYỆN NGẮN NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC HOA GIẢ NGU TÌM BỌ-LÀM CHUYỆN TÀO LAO-3 THẰNG BẠN ĐÀ LẠT

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/so-ac-biet-quoc-han-30-4-2026-trang_27.html

 

**

SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4--2026 KÍNH GIỚI THIỆU NHỮNG SÁNG TÁC QUÝ THI NHẠC SĨ THỜI DANH CHƯƠNG HÀ DUY HÂN NGUYỄN VĂN THÀNH ALPHA LINH

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/so-ac-biet-quoc-han-30-4-2026-kinh-gioi_27.html

 

**

SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HÂN 30-4-2026 HÀ NGỌC KÍNH MỜI CHIA SẺ CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG SỐNG SÓT NHỜ PHÉP LẠ-THÁNG 4 HỘC MÁU…

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/so-ac-biet-quoc-han-30-4-2026-ha-ngoc.html

 

**

SỐ DẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4-2026-HÀ NGỌC 51 NĂM TIẾNG THÉT LƯNG TRỜI CÒN ĐÂY KÍNH MỜI CHIA SẺ THƠ TRƯỜNG HẬN CA 30-4

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/so-dac-biet-quoc-han-30-4-2026-ha-ngoc.html

 

**

SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4-2026 KÍNH MỜI CHIA SẺ BĂNG THƠ & NHẠC TRƯỜNG HẬN CA 30-4 LỜI BUỒN NGƯỜI SỐNG- 35 NĂM HỘI NGỘ SIKIEW

https://hangoc2020.blogspot.com/2026/04/so-ac-biet-quoc-han-30-4-2026-kinh-moi.html

 

*MỸ HÂN-HÀ NGỌC KÍNH MỜI QUÝ CHIẾN HỮU CHIA SẺ

ỦNG HỘ CHANNEL: NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ

*CHÚNG TÔI  UPLOAD NHIỀU VIDEO GIÁ TRỊ…

 

NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ Channel

https://www.youtube.com/channel/UCTmYB_yuw7Ot6dr04XLZ1Dw

 Inline image

 

HÀ NGỌC & MỸ HÂN VĨNH LONG CHANNEL

NHỮNG DẤU ẤN LỊCH SỬ Channel

https://www.youtube.com/channel/UCTmYB_yuw7Ot6dr04XLZ1Dw

 

MY HAN VINH LONG

THE HEART SPEAKS (LYRICS: SA CHI LỆ - MUSIC: TRẦN QUANG) - ENGLISH VERSION OF THE "CON TIM BIẾT NÓI"


Cuộc Tình Của Tổng Thống Thomas Jefferson Với Người Tình Sally Heming

Tổng Thống Thomas Jefferson (1743-1826) Jefferson là tác giả chính của Tuyên Ngôn Độc Lập - Hoa Kỳ Thomas Jefferson là Tổng thống thứ 3 của...