Dự Doán Vận Mệnh Bính Ngọ Năm 2026 - Thiên Hà Thủy



Dự Doán Vận Mệnh
Bính Ngọ Năm 2026 - Thiên Hà Thủy




Năm Mới 2026


Ý Nghĩa Tết Cổ Truyền &

Tâm Tình Đón Xuân Bính Ngọ 2026

Mùng 1 Tết (Ngày Đầu Năm Tết Bính Ngọ) là Thứ Ba, ngày 17 tháng 2 năm 2026, dương lịch (tức ngày mùng 1 tháng Giêng năm Bính Ngọ theo Âm lịch)

Đêm Giao Thừa.

Thời khắc chuyển giao năm cũ sang năm mới, diễn ra vào tối 16/02/2026 theo Dương lịch. 

Nếu tính theo Âm Lịch như vậy chúng ta chỉ còn chưa đầy một tháng nữa là Tết Bính Ngọ 2026, tình từ ngày tôi viết bài này 01-08-2026.

Tôi xem những kênh (youtube) ở quê nhà Việt Nam, không khí xuân đã bắt đầu lan tỏa trên từng con phố: sắc mai vàng, đào thắm, những gian hàng bánh mứt rộn ràng, tiếng nhạc xuân vang lên trong nắng sớm.

Còn tại hải ngoại, trong những khu thương xá của cộng đồng người Việt, hương vị Tết cũng đã hiện diện qua từng gói mứt, từng cành hoa, từng bảng hiệu đỏ thắm mang lời chúc an lành. Dẫu xa quê, lòng người Việt vẫn không nguôi hướng về ngày Tết cổ truyền, mùa của ký ức, của cội nguồn.

Tết cổ truyền không chỉ đơn thuần là thời khắc chuyển giao của đất trời, mà còn là sự giao hòa giữa quá khứ – hiện tại – tương lai.

Đó là lúc con cháu tưởng nhớ tổ tiên, tri ân nguồn cội; là dịp gia đình sum họp, hàn gắn những xa cách, bỏ qua những phiền muộn cũ để mở lòng đón điều mới mẻ.

Trong tâm thức người Việt, Tết là biểu tượng của nhân nghĩa, hiếu đạo, tình thân và niềm hy vọng. Mỗi nén hương, mỗi mâm cơm cúng, mỗi lời chúc đầu năm đều mang theo ước vọng cho một đời sống an hòa, đạo đức và nhân ái.

Năm 2026 là năm Bính Ngọ thuộc hành Hỏa, tượng trưng cho ánh sáng, sinh khí, chuyển động và khát vọng vươn lên. Con ngựa trong văn hóa Á Đông là biểu tượng của tự do, bền bỉ, trung thành và tinh thần tiến bước không ngừng.

Tại sao Bính ngọ là hành Hỏa, lại mang âm Thủy

Đây là điểm thú vị của nạp âm.

Bính thuộc Hỏa (dương Hỏa – ánh sáng mặt trời).

Ngọ cũng thuộc Hỏa (đỉnh nhiệt của mùa hè).

Hỏa cực thịnh → sinh ra hơi nước bốc lên trời → ngưng tụ thành mưa.
Cho nên, về triết lý âm dương: Hỏa cực sinh Thủy.

Vì vậy năm Bính ngọ 2026, tuy thiên can và địa chi là Hỏa, nhưng bản chất vận khí sâu bên trong lại là Thủy, đây là một sự quân bình của vũ trụ.

Năm Bính Ngọ các nhà thiên văn học gọi là năm Thiên Hà Thủy

Thiên Hà Thủy là gì?

Thiên = Trời
= Sông lớn / dòng chảy
Thủy = Nước

Thiên Hà Thủy được hiểu là dòng nước từ trời cao đổ xuống:

Như mưa, sương, hơi nước trong khí quyển – không phải nước sông, nước biển hay nước giếng.

Ý nghĩa biểu tượng: Thiên Hà Thủy

1-   Nguồn sống nuôi dưỡng vạn vật. Mưa từ trời làm đất đai hồi sinh, cây cối sinh trưởng, tượng trưng cho ân phúc, sự tái sinh, khởi đầu mới.

2-  Tính linh động – biến hóa – khó nắm bắt
Nước mưa đến bất ngờ, lúc nhiều lúc ít – đặc trưng cho sự biến động, thay đổi nhanh, thời vận xoay chuyển mạnh.

3-  Tính bao dung – lan tỏa – kết nối
Nước thấm khắp nơi, không phân biệt – tượng trưng cho lòng nhân ái, sự cảm thông, trí tuệ mềm mại.

4-  Tính tinh thần – trí tuệ – cảm hứng
Khác với nước vật chất, Thiên Hà Thủy nghiêng về tư duy, sáng tạo, tâm linh, nghệ thuật, triết học – điều này khá gần với khí chất văn chương, thi ca mà anh chị em Văn Nhệ Sĩ vẫn theo đuổi.

Bính Ngọ vì thế thường được xem là năm của sự đổi mới, của hành động mạnh mẽ, của ý chí khai mở những chân trời mới. Tuy nhiên, hành Hỏa cũng nhắc nhở con người cần giữ sự quân bình nội tâm, tránh nóng vội, biết tiết chế cảm xúc, nuôi dưỡng trí tuệ và lòng bao dung để mọi chuyển động đều hướng về điều thiện lành.

 

Dự Đoán vận mênh năm Bính Ngọ

Năm 2026 mở ra với nhiều chuyển động đáng chú ý của thế giới và đời sống con người. Đây được xem là năm tiếp nối quá trình tái cấu trúc toàn cầu: kinh tế dần ổn định hơn sau nhiều biến động, công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) tiếp tục phát triển mạnh mẽ, dự đón công nghệ Ai sẽ phát triển tột bực trong năm 2026. Đồng thời con người có xu hướng quay về những giá trị bền vững như gia đình, tâm linh và sự bình an nội tâm.

Năm 2026 theo âm lịch là năm Bính Ngọ, mệnh Thiên Hà Thủy (nước trên trời), biểu trưng cho sự linh hoạt, trí tuệ và khả năng thích nghi.

Nhìn chung, đây là một năm khá thuận lợi nếu biết nắm bắt thời cơ, hành động minh bạch, giữ tâm thiện lành và kiên trì trước thử thách.


Những điểm chính của năm Bính Ngọ 2026
Thiên Hà Thủy

1. Năm của chuyển động và đổi mới.

Bính Ngọ mang khí Hỏa – Ngọ kết hợp với Thủy – Thiên Hà, tạo nên sự va chạm nhưng cũng thúc đẩy chuyển hóa. Đây là năm thích hợp để thay đổi hướng đi, khởi đầu dự án mới, làm mới tư duy và vượt ra khỏi lối mòn cũ.
           2. Trí tuệ dẫn đường cho hành động.

Thiên Hà Thủy tượng trưng cho nguồn nước từ trời cao, biểu hiện của trí tuệ, trực giác và tầm nhìn xa. Thành công trong năm này không đến từ nóng vội mà từ suy xét sâu xa, biết chọn đúng thời điểm.

3. Linh hoạt – mềm mà không yếu

Năm Bính Ngọ đòi hỏi sự uyển chuyển trong cách sống và làm việc. Ai biết mềm dẻo trước hoàn cảnh, biết lùi một bước để tiến ba bước, sẽ tránh được va chạm và giữ được thế chủ động.

          4. Minh bạch – chính trực là then chốt
Thiên Hà Thủy đề cao sự trong sáng, minh bạch và ngay thẳng. Những hành động thiếu rõ ràng, gian dối hoặc nóng nảy dễ gặp trở ngại. Ngược lại, sống ngay lành sẽ được quý nhân phù trợ.
           5. Tài lộc đến theo dòng “chảy” chứ không bùng nổ
Thiên Hà Thủy là “nước trên trời”, tài lộc trong năm này không đến ào ạt, mà theo kiểu tích lũy dần, đều đặn. Ai trông chờ may mắn lớn, đánh nhanh thắng nhanh, dễ gặp rủi ro. Ngược lại, nguồn thu ổn định, lâu dài sẽ mang lại an tâm.
            6. Thuận lợi cho trí tuệ – chất xám – sáng tạo
Năm này tốt cho những lĩnh vực dùng đầu óc, kinh nghiệm và uy tín, như:


Văn chương, nghệ thuật, âm nhạc
Giáo dục, tư vấn, nghiên cứu
Công nghệ, truyền thông, dịch vụ
Tiền bạc đến từ giá trị tinh thần và trí tuệ, hơn là lao lực tay chân.

Dự Đoán Bối Cảnh Thế Giới.


         Trong năm 2026, bối cảnh quốc tế dự báo tiếp tục là một giai đoạn đầy thách thức nhưng cũng chứa đựng những hy vọng mới. Các nền kinh tế lớn đang điều chỉnh chính sách để duy trì tăng trưởng ổn định sau giai đoạn lạm phát và gián đoạn chuỗi cung ứng, đồng thời thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực công nghệ, năng lượng bền vững và phát triển xanh. Cạnh tranh địa chính trị giữa các cường quốc vẫn sẽ định hình các quan hệ quốc tế, khiến việc duy trì ổn định và an ninh đa phương trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

        Một trong những điểm nóng được theo dõi chặt chẽ là cuộc xung đột Nga–Ukraine đã kéo dài từ đầu năm 2022. Đến năm 2026, nhiều nhà phân tích cho rằng chiến tranh có thể tiếp tục kéo dài nhưng với cường độ dao động và các nỗ lực ngoại giao tăng cường nhằm tìm kiếm một lối thoát bền vững hơn. Các vòng đàm phán hòa bình, do các bên trung gian như Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu thúc đẩy, vẫn đang diễn ra với nhiều bất đồng trọng điểm, đặc biệt là việc đảm bảo an ninh, tương lai lãnh thổ và cơ chế giám sát sau xung đột, những yếu tố mà cả Ukraine và Nga vẫn chưa thống nhất được.

        Điều này cho thấy việc ký kết một hiệp định hòa bình toàn diện vào năm 2026 là khó xảy ra, trừ khi có những nhượng bộ chiến lược đáng kể từ cả hai phía hoặc một bước ngoặt ngoại giao xuất hiện trong những cuộc gặp thượng đỉnh quốc tế sắp tới.

        Tuy nhiên một số dự báo cũng ghi nhận rằng cửa ngỏ cho một lệnh ngừng bắn hay thỏa thuận tạm thời vẫn tồn tại, nhất là khi chi phí tiếp tục xung đột đối với cả hai quốc gia và cộng đồng quốc tế ngày càng lớn.
       Sự phối hợp giữa các nước lớn, các tổ chức quốc tế và áp lực từ dư luận toàn cầu có thể đóng vai trò then chốt trong việc giảm bớt căng thẳng, tạo nền tảng cho hòa bình trong tương lai.

Dù sao thì cũng chỉ là dự đoán, mấy ai có thể tiên đoán chính xác về những diễn biết xẫy ra trên thế giới.

Trong dòng suy tưởng ấy, tôi nhớ lại những cái Tết đã đi qua, từ tuổi thơ ấm lửa bếp nhà, đến những mùa xuân nơi đất khách, và thả hồn vào những vần thơ lục bát, một thể thơ được xem là linh hồn của văn học dân tộc Việt Nam.

Tôi không chọn những ngôn từ ca tụng vật chất như tiền tài hay danh vọng, mà mong gửi gắm những giá trị bền lâu hơn: tình yêu, nhân nghĩa, sự vô thường của kiếp người và niềm trân quý từng khoảnh khắc sống.

Bởi lẽ, xuân đẹp nhất không nằm ở sự đủ đầy bên ngoài, mà nằm ở sự an nhiên, chân thành trong tâm hồn.


Tế Luân
Tìm hiểu từ trang Google Search

Lê Tuấn & Thúy Dung. Chúc Mừng năm mới Bíng Ngọ 2026

Chúc Mừng Năm Mới 

Bính Ngọ 2026


Xuân về ngựa biếc, gõ thời gian,
Mưa phúc rơi đều khắp thế gian.
Lộc đến nhân gian đầy cửa ngõ,
Ơn lành gieo khắp mọi tâm an.

Chúc cho mọi thành viên an hòa,
Đạo sáng, đời yên, nghĩa đậm đà.
Văn thơ nở rộ hồn thanh khiết,
Vạn Sự Như Ý, phúc chan hòa.

Tế Luân

Chúc Mừng Năm Mới 2026


Cung Chúc Tân Xuân

Cung nữ khoe sắc mỹ miều
Chúc xuân vui bước đường chiều lả lơi
Tân niên hoa bướm tuyệt vời
Xuân khoe sắc mới rạng ngời hoa tươi.

Vạn lời nói, vạn tiếng cười
Sự đời lắm lúc rối bời đau thương
Như mây giăng mắc khói sương
Ý trời trong lẽ vô thường hiện sinh.

Yêu đi cho hết chân tình
Nếu mai hai đứa chúng mình xa nhau
Thì đời buồn lắm cơn đau
Ngày xuân xin hãy, cho nhau nự cười.

Tình đời cứ thế đầy vơi
Ân tình trả mãi, vạn lời ước mong
Cuộc đời vẫn mãi thong dong
Xuân về hoa nở, cõi lòng hân hoan.

Tế Luân


Khai Bút Đầu Năm

Đầu năm khai bút viết vần thơ
Đất Trời rực rỡ đẹp như mơ
Hồn xuân phơi phới! Già . . . mặc kệ
Sức khỏe bình an. Tình vẫn chờ.

Chúc mừng bạn hữu ở gần xa
Rộn rã niềm vui tiếng xuân ca
Văn thơ trào phúng vui ngày Tết
Vạn Sự Bình An đến mọi nhà.

Sức khỏe, tuổi già đẹp lão ra
Xuân về dạo khúc nhạc tình ca
Đón chào năm mới. Tình xuân mới
Vui với nàng thơ tuổi không già.

Tế Luân


Xuân Nhớ

Chim trời ríu rít gọi nhau

Khúc giao mùa đã đổi màu sang xuân

Rộn ràng lòng thấy bâng khuâng

Nghe như hơi thở tình nhân tìm về.

Bồi hồi nhớ cảnh Tết quê

Nhớ thời son trẻ đam mê tình đầy

Mới ngày nào tuổi thơ ngây

Hồn xuân hớn hở xum vầy vui chơi.

Bên hiên nghe tiếng Mẹ cười

Nụ cười Mẹ chứa cả trời gian nan

Bên Mẹ nồng ấm chứa chan                                        

Mùa xuân có Mẹ lòng tràn đắm say

Ngậm ngùi sợi tóc màu mây

Mẹ về sương núi đồi tây hững hờ

Chiều nghiêng bóng nguyệt đêm mơ

Vô thường nhân thế xóa mờ ước mong

Con thuyền buông lái bến sông

Dòng xuôi gợn sóng mây hồng giăng ngang

Bãi sông một nhánh mai vàng

Mùa xuân chợt đến huy hoàng chiêm bao

Ước gì Mẹ hóa vì sao

Từng đêm con ngủ rơi vào giấc mơ

Cho con tìm lại tuổi thơ

Mùa xuân bên Mẹ. Bài thơ ân tình

Tế Luân


Mơ Ước Ngày Xuân                      

Đóa hoa chớm nở lá xanh

Giọt sương còn đọng long lanh sắc màu

Đêm qua sương lạnh trăng thâu

Em vào múc cạn mạch sầu đổ đi.


Ngoài sân bãi cỏ xanh rì

Có loài cỏ lạ xuân thì nở hoa

Tóc dài hương gió bay xa

Em thay áo mới bóng tà huy bay.


Đóa hồng hoa nở trên tay

Ngây thơ chờ đợi đến ngày xuân sang

Trước sân cúc nở hoa vàng

Đào, mai, rực rỡ huy hoàng đón xuân.


Sao em ngơ ngẩn bâng khuâng

Như chờ như đợi đường trần nối duyên

Trong mơ em thấy bà tiên

Mong sao gặp được người hiền thi nhân.


Bao giờ em gặp người thân

Tình chàng ý thiếp đường trần thênh thang

Bài thơ ngôn ngữ nhẹ nhàng

Tình thơ ý đẹp ngập tràn yêu thương.


Xôn xao tiếng gọi bên đường

Mơ xuân hiện hóa thiên đường rong chơi

Tơ hồng giăng mắc ý trời

Em mong xuân đến một đời bình an.

 

Tế Luân

 



Tháng Chạp Ngày Cận Tết


Bức tường rêu phủ dấu tình xưa
Loang lổ rêu phong gợi gió mưa
Từng mảng rêu xanh trên vách đá
Dung nhan gỗ mục, bóng chiều đưa.

Thiếu nữ chờ ai, bóng nhạt nhòa
Duyên thầm biến hóa lúc giao thoa
Nhạc buồn thổn thức hồn trinh nữ
Đồng cảm rung lên những xót xa.

Giông bão cuối năm chiều gió mưa
Tình yêu nhắc nhở hẹn hò xưa
Vấn vương thủa ấy em còn nhớ
Còn chút gì thương buổi tiễn đưa.

Thời gian khắc dấu lên thềm cũ
Bóng nguyệt nghiêng soi giấc mộng tàn
Cửa gió heo may mòn tiếng hẹn
Hương xưa còn thoảng giữa trần gian

Ai bước qua đời không ngoảnh lại
Ai mang kỷ niệm giấu tim đau
Rêu xanh vẫn đợi mùa mưa tới
Như mối tình xưa chẳng nhạt màu

Xuân đến có hay lòng đá lạnh
Thu về thêm ướt vết chân quen
Bức tường rêu cũ không lời nói
Mà kể trăm năm chuyện hợp tan.

Tế Luân.

 



Cô Em Gái Tuổi Ngọ

Đã nghe hương cốm tan vào gió xuân
Nghe như ngựa hí vang động ngoài sân
Cô em gái tuổi Ngọ, xinh xinh quá
Dạo bước vui xuân, điểm dáng thanh tân.

Khăn vấn ngang đầu ngọn gió xuân xa
Bước chân quê, mộng ước thật bao la
Trong huyết mạch vó câu nghìn năm cũ
Sắc son chung thủy, duyên dáng mặn mà.

Tết chạm ngõ bếp hồng thơm bánh mới
Chén chè xanh soi bóng nét xuân thì
Em bước đến, mùa xuân thành giấc mộng
Ngựa thời gian tung gió bụi đường thi.

Tế Luân


Chúc mừng năm mới
Xuân Bính Ngọ 2026

 

Chuyện Tình Buồn Màu Tím Hoa Sim - Lời Tâm Sự Của Nhà Thơ Hữu Loan và Phạm Duy




Màu Tím Hoa Sim

Màu Tím Hoa Sim là một câu chuyện tình có thật, buồn đến lặng người, nảy sinh giữa những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Đó là mối duyên mộc mạc giữa một người lính trẻ, cũng là một thi sĩ, với cô gái quê hiền lành, trong sáng như sắc sim tím lặng lẽ nở ven đồi.

Họ đến với nhau không hoa cưới, không lụa là, chỉ có tình yêu chân thành và một lời hẹn mong manh giữa ngày người lính lên đường ra trận.

Chiến tranh không cướp đi sinh mệnh của người lính, nhưng lại âm thầm mang người vợ trẻ về với đất lạnh, để lại phía sau nỗi đau câm lặng, xâm chiếm trọn vẹn cõi hồn thơ của kẻ còn sống.

Từ bi kịch riêng ấy, sắc tím hoa sim trở thành biểu tượng cho tình yêu thủy chung, cho mất mát không gì bù đắp, và cho nỗi buồn lặng lẽ của cả một thế hệ đi qua chiến tranh mà mang theo vết thương lòng đến suốt đời.

Chuyện tình buồn Màu Tím Hoa Sim chính là câu chuyện đời thật của người lính, thi sĩ mang tâm hồn lãng mạn, trân trọng những giá trị vĩnh cửu của tình yêu.

Nhờ vậy, bi kịch riêng tư đã hóa thành vần thơ bất tử, đi vào lòng người như một tuyệt tác văn chương, để rồi được nhiều nhạc sĩ miền Nam tự do phổ nhạc và nâng niu, lưu giữ, vinh danh một mối tình bất diệt qua những giai điệu lay động lòng người.

Tế Luân


Hình minh họa, nàng trong bài thơ Màu Tím Hoa Sim



Chuyện Tình Buồn Màu Tím Hoa Sim



Nhạc Sĩ Phạm Duy Kể Về Hoàn Cảnh Sáng Tác

"Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà".

Cuối năm 1947, tôi từ Việt Bắc (Cao-Bắc-Lạng) xuống Khu Ba (Chợ Đại, Cống Thần) rồi có ý định đi theo Trần Văn Giàu vào Nam chiến đấu. Nhưng khi vào tới Thanh Hóa (Khu 4 - làng Quần Tín) thì tôi gặp tướng Nguyễn Sơn và ở lại đó, gia nhập Ban Văn nghệ của Trung đoàn 304.

Tại đây tôi gặp Hữu Loan...

Đầu húi cua, tiếng nói lớn, và khi ngủ thì ngáy như sấm, vậy mà khi làm thơ thì toàn thơ buồn. Anh vừa góa vợ và có một bài thơ rất buồn thương là bài Màu tím hoa sim mà nhiều người đã phổ nhạc, trong đó có tôi (có hai người khác phổ nhạc nữa là: Dzũng Chinh với tên Những đồi hoa sim và Anh Bằng thì lấy tên là Chuyện hoa sim). Nhưng đến khi tôi phổ nhạc xong bài thơ thì chính quyền hồi đó (1948) cho rằng bài thơ tiêu cực quá, nên tôi không muốn phổ biến bài hát đó. Sau này, khi tôi vào Sài Gòn sinh sống, tới năm 1971 tôi mới chính thức tung ra bài hát. Khi đó, tôi đặt tên cho bài hát là Áo anh sứt chỉ đường tà. (Một ca khúc trong selection Thương Ca Chiến Trường).

Theo tôi, bài Áo anh sứt chỉ đường tà tuy có vẻ buồn thương, nhưng không bi lụy mà bi hùng! Tôi nghĩ, bổn phận của người nghệ sĩ trong thời chiến phải biến cái bi thành cái hùng. Bài thơ của anh Hữu Loan có cả hai yếu tố đó và trong bản nhạc người nghe cũng nghe được cả hai tiếng: tiếng hùng và tiếng bi. Tôi soạn thành một “ca khúc” dài tới 7 đoạn gồm khoảng 80 khuông, thành một bài “ái quốc ca” dài (long patriotic chant) hơn là một bài “vãn ca” (Complainte)

Vì là một truyện ca dài, bài hát được chia ra 6 đoạn, nói tới chuyện một anh chiến binh từ mặt trận trở về, cưới xong người con gái anh yêu, rồi lại phải trở về quân ngũ. Ở chiến trường, nhiều khi nhớ vợ, lo lắng cho vợ. Ở quê nhà, bỗng không may người vợ trẻ bị chết đuối, anh không được gặp mặt vợ. Lòng anh rất buồn nhưng vẫn hăng hái theo đoàn chiến sĩ ra đi. Trên đường hành quân, qua những đồi sim, anh nghe thấy có tiếng văng vẳng ru: À ơi, Áo anh sứt chỉ đường tà, vợ anh chết sớm, mẹ già chưa khâu....

Đây là những đoạn nhạc với tình cảm khác nhau trong bài hát : Mở đầu (giọng kể) – Khúc vui (đám cưới) – Khúc lo lắng – Khúc buồn – Khúc rất buồn – Khúc kể lể - Đoạn cuối (hành khúc bi hùng).

Thế rồi tôi và Hữu Loan xa nhau … Khi bài hát được phổ biến tại miền Nam, ở một miền Bắc còn cách rời và xa thăm thẳm, anh Hữu Loan được báo chí phỏng vấn về bài hát này (1995), đã trả lời:

Hữu Loan : Cái bản nhạc suốt ngày rên rỉ “Nàng có ba người anh đi quân đội” là của ai ?

Phạm Duy. Lúc ấy ở Thanh Hóa là “thủ đô của văn nghệ” kháng chiến. Các nhà thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Vũ Ngọc Phan, Hằng Phượng, Lưu Trọng Lư … và cả các trí thức Đặng Thai Mai, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu đều về quê ta cả. Nguyễn Tiến Lâng, Phạm Duy và bọn tôi là lính của tướng Nguyễn Sơn. Mình cưới vợ vào thời ấy và làm Màu Tím Hoa Sim cũng vào thời ấy. Phạm Duy phổ nhạc nhưng lúc vào thành mới đem ra hát. Chuyện trong bài thơ là chuyện thật của đời mình!

Cả cái câu:

“Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới
Tôi bận đồ quân nhân
Đôi giày dính bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh bên anh chồng độc đáo”

Cả, y nguyên như chuyện ngoài đời, chỉ dung lời để đưa vào thơ nên có thể làm một mạch. Cuộc sống đọc, nhà thơ ghi lại.

Hà Nội, 4/1995

Rồi một nửa thế kỷ trôi đi … Vào năm 2005, tôi từ Hoa Kỳ trở về thăm quê hương. Một ngày nào đó trong năm 2006, bỗng tôi có cơ hội đi thăm Hữu Loan.

Trong một cuộc du lịch trên đường cái quan, tôi phải đi ngang qua tỉnh Thanh Hóa. Biết anh Hữu Loan còn sống trong một làng nhỏ (Làng Vân Hoàn, xã Nga Lĩnh, Huyện Nga Sơn), thế là tôi đi xe ôm vào thăm. Anh em gặp nhau trong hoàn cảnh cả hai đã già cả rồi. Chúng tôi ôn lại dăm ba câu chuyện rồi chia tay nhau. Lúc đó tôi thấy anh Hữu Loan đã hơn 90 tuổi mà hãy còn khỏe mạnh thì mừng lắm.



Bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê...

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa...

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường Đông Bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu...
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu...

1949


Nàng trong bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Chính là người vợ bé nhỏ của Nhà Thơ Hữu Loan. Nàng tên là Đỗ Thị Lệ Ninh đã mất sau ngày cưới không lâu vì chết đuối. Các anh của Nàng, theo tài liệu của Hàn Anh Trúc là 3 người có thực ở chiến trường Đông Bắc. Đó là Đỗ Lê Khôi - tiểu đoàn trưởng hy sinh trên đồi Him Lam, Đỗ Lê Nguyên nay là Trung tướng Phạm Hồng Cư và Đỗ Lê Khang - nguyên Thường vụ Trung ương Đoàn. Hữu Loan kể và Hàn Anh Trúc ghi lại trong một cuốn biên khảo văn học rằng, bố vợ ông trước kia làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên “vợ mình sinh ở trong ấy, quen gọi mẹ bằng má”, bài thơ mới có câu “má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối”. Hàn Anh Trúc viết là Hữu Loan sáng tác bài thơ ngay tại mộ người vợ trẻ, rồi: “ghi vào chiếc quạt giấy để lại nhà một người bạn ở Thanh Hoá. Bạn anh đã chép lại và chuyền tay nhau suốt những năm chiến tranh”.

Điều đó đã được chính nhà thơ Hữu Loan xác nhận.




Lời tâm Sự Của Nhà Thơ Hữu Loan

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hoá, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 - lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi - Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khoá ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi, Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn, Đỗ Thiện và...tôi - Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hoá để dạy học.

Với danh nghĩa con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khoá đầu tiên. Ở Thanh Hoá, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.


Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: “Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt.

Có lần tôi kể chuyện “bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành... Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi.

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:

-Thầy có thích ăn sim không?

Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ. Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng. -Thầy ăn đi. Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì....tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi... lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng, em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi...Tôi quay đầu nhìn lại... em vẫn đứng yên đó... Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa...

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khoẻ và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ...

Chín năm sau, tôi trở lại nhà...Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em, hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp.

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm “soạn kịch bản”. Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: “yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay... lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hoá của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại.....Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn. Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội Những em nàng có em chưa biết nói “Khi tóc nàng đang xanh” Tôi về không gặp nàng...

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hoá... Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.


Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chổ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím.

Cho nên tôi viết mới nổi những câu: Chiều hành quân, qua những đồi sim. Những đồi sim, những đồi hoa sim. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt. Và chiều hoang tím có chiều hoang biết. Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại. Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối!

Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn. Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn.

May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép.

Đó là thời năm 1955 - 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn.

Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình.

Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng. Y như trong lời thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông.

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa.

Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan,

Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn, nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím.

Cho nên tôi mới viết những câu:

“Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết. Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi “hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”.

Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày.

Họ không cho tôi bỏ đảng bỏ đơn vị, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được!

Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo.

Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi...

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi!

Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.

Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956, khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Chiếc Chiếu
Thơ Hữu Loan

Có ai thấy một người cha
Từng buổi, từng buổi
Trước tủ kính cửa hàng mậu dịch dòm như nổ mắt
Tì mũi dẹp như quả bóng xuống hơi
Thầm đọc đi đọc lại giá hàng từng thứ đồ chơi
Dù nhiều lần đã hạ giá
Trong óc nổi bòng bong từng mớ
Những cơm đến gạo đến quần đến áo
Những đôi chiếu nằm rách từ giữa rách ra
Tục ngữ nói rằng những chiếc nhà dột từ nóc trên dột xuống
Từng sáng mai nhìn gầm giường
Đốt cói rụng đầy như chiếu rụng đốt xương
Gió thổi từ dưới thổi lên
Muỗi cũng đốt từ dưới đốt lên
Nhưng con đái dầm lại tiện
Ròng rã mười năm kháng chiến
Cầm vững hai tay
Một cái tinh thần
Choảng nhau với súng với bom
Gian khổ còn ư?
Bố con ta lại vung cái tinh thần như tráng sĩ vung gươm
Chong chóng không quay
Con vứt đi phụng phịu
Sáng kiến làm đồ chơi
Bố thì không thiếu
Bố lại lấy lá dứa vận cho con cái kèn
Bố thổi nó kêu lên
Tò he…tò he
Con đắc chí giật kèn đi thổi khắp Ô Kim Mã
Tò he…tò he
Như một thiên sứ hài đồng
Xuống lệnh điềm tin
Tò he…tò he…
Nhớ truyện Đông Chu sao đỏ, sao đen
Tò he…tò he…

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.

Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội cải cách. Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên.

Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội cải cách. Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.

Trên đường trở về, lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói.

Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no... Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con - 6 trai, 4 gái - và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên.

Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi “tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hoá. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.

Tế Luân
Sưu tầm trên Goolge Search





Hai vợ chống nhà tho hữu Loan









CẢM TÁC MỐI TÌNH BUỒN
Màu Tím Hoa Sim

Ngày ấy nàng còn xanh mái tóc
Anh đi biền biệt chốn non ngàn
Em thơ chưa trọn vẹn câu nói
Chiều quê hiu hắt gió mơ màng.

Tôi đến từ miền mưa khói súng
Áo sờn vai bạc, giày bám bùn
Yêu nàng bằng cõi lòng say đắm
Vấn vương như ôm trọn linh hồn.

Ngày hợp cẩn không hoa không lụa
Nụ cười hiền, ánh mắt long lanh
Cưới xong hôm ấy ngày tôi đi
Bỏ mái tranh nghiêng gió lạnh canh.

Chiến khu xa thẳm đêm thao thức
Nghĩ hậu phương, dạ bỗng lạnh run
Lấy chồng lính có hay sinh mệnh
Một lần đi, mấy kẻ quay lưng?

Tôi không chết giữa ngàn bom đạn
Vẫn trở về nguyên vẹn thân trai
Chỉ có nàng – hoa sim tím nhỏ
Tắt giữa quê nhà buổi sớm mai.

Mộ đất lạnh, mẹ ngồi chết lặng
Bình hoa xưa hóa chén hương buồn
Màu tím sim loang miền ký ức
Nhuộm hồn tôi đến tận mưa nguồn.

Tế Luân


Hình minh họa do tôi thực hiện


Xin mời thưởng thức Những ca khúc phổ nhạc từ 
Chuyện Tình Buồn Mài Tím Hoa Sim



Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà
Nhạc Phạm Duy


Những Đồi Hoa Sim
Nhạc Dũng Chinh



Ngâm thơ
Mài Tím Hoa Sim



Chuyện Hoa Sim - Anh Bằng




Tế Luân
Sưu Tầm





















Dự Doán Vận Mệnh Bính Ngọ Năm 2026 - Thiên Hà Thủy

Dự Doán Vận Mệnh Bính Ngọ Năm 2026 - Thiên Hà Thủy Năm Mới 2026 Ý Nghĩa Tết Cổ Truyền & Tâm Tình Đón Xuân Bính Ngọ 2026 Mùng 1 T...