Mùa Xuân Trong Cách Nhìn Thiền Học - Thơ Thiền





MÙA XUÂN
Trong Ánh Nhìn Thiền Học


“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.”
(Mãn Giác Thiền Sư)

                                                                                                            Tùy Bút Tế Luân

Trong Thiền học, mùa Xuân không chỉ là một hiện tượng khí hậu, mà là biểu hiện sinh động của lý vô thường (anicca).

Xuân đến, Xuân đi; Hoa nở, Hoa tàn; tất cả vận hành trong dòng sinh diệt liên tục, không một pháp nào đứng yên, không một sát-na nào lặp lại.

Thiền sư Mãn Giác nhìn cảnh Xuân không bằng nhãn quan thẩm mỹ thông thường, mà bằng tuệ nhãn. Ngài thấy rõ:
Thời gian là lưu chuyển,
Đời người là quá trình hoại – thành,
Thân tâm con người bị cuốn trong vòng sinh tử (saṃsāra).

“Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai”

Xuân đi, hoa rụng, Xuân đến, hoa nở: đó là pháp hữu vi, chịu sự chi phối của nhân duyên và biến dịch. Ngay cả tuổi tác con người cũng không thoát khỏi định luật ấy:

“Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai”

Mọi sự việc trôi qua trước mắt, tuổi già đã âm thầm đến trên đầu. Đây chính là quán vô thường, nền tảng của trí tuệ giải thoát trong Phật giáo.

Nhưng Thiền không dừng lại ở cái thấy sinh diệt. Ngay nơi vô thường, Thiền chỉ ra bản thể bất sinh bất diệt, cái Chân tâm, cái Pháp thân, cái bản lai diện mục.

“Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Đêm qua sân trước một cành mai.”

“Một cành mai” (nhất chi mai) không phải là hoa mai vật lý, mà là biểu tượng của Chân như:
Không sinh, không diệt
Không đến, không đi
Không tăng, không giảm

Giữa dòng sinh diệt cuồn cuộn của thời gian, Chân tâm vẫn hiện tiền, tịch nhiên mà chiếu sáng.

Tư tưởng này cũng tương ứng với trực giác triết học của Heraclite, khi ông nói rằng không ai có thể bước hai lần xuống cùng một dòng sông. Tuy nhiên, Thiền học đi xa hơn: không chỉ thấy dòng nước trôi, mà còn trực nhận được tánh nước.

Trong cùng tinh thần ấy, Heidegger gọi con người là “hữu thể hướng tử” từng sát-na đang đi về cái chết.

Nhưng với Thiền, cái thấy này không dẫn đến bi quan, mà mở ra con đường tỉnh thức: thấy sinh tử để vượt sinh tử.

Xuân về, người đời chúc nhau “thêm một tuổi”. Thiền sư thì ngược lại: mỗi Xuân đến là bớt đi một năm trong quỹ thời gian hữu hạn của đời người.

Chỉ khi nào đoạn tận duyên trần, ngộ được chủ nhân ông nơi duyên khởi, thì mới vượt ngoài số đếm của năm tháng.

Xuân trong Thiền, vì thế, không nằm ở lịch pháp, không ở hoa lá, mà ở tâm vô trụ, nơi mỗi sát-na đều là Xuân, và mỗi hơi thở đều là đạo.

Cá nhân tôi rất thích tìm hiểu những tư tưởng thiền định, bởi trong đó tôi nhận ra con đường quay về với tâm nguyên sơ của chính mình.

Thiền không nhằm tìm kiếm điều gì ở bên ngoài, mà là lặng yên để thấy rõ, nội tâm bên trong, để học buông xả những vọng niệm sinh diệt, nhận diện vô thường và an trú trong hiện tại.

Mỗi lần quán chiếu, tôi học được cách sống chậm lại, lắng nghe hơi thở, để tâm không còn bị cuốn theo danh lợi hay phiền não.

Trong sự tĩnh lặng ấy, tôi cảm nhận một nguồn an nhiên sâu lắng, như ánh sáng dịu dàng soi rọi đời sống thường nhật, giúp tôi sống tỉnh thức và hài hòa hơn giữa trần gian. Và tôi thường viết một vài bài thơ để bày tỏ dòng suy tư của chính tôi trong tư tưởng Thiền Định.



THƠ XUÂN TRONG THIỀN ĐỊNH


Xuân đến không từ ngoài cửa ngõ
Hoa nở do tâm lặng chiếu soi
Một niệm khởi, ngàn sương phủ kín
Tâm không sinh, vạn pháp nhàn khơi.

Gió động, cành mai không biết nói
Hoa rơi, trăng vẫn ở trên trời
Vô thường chẳng phải là hư mất
Chỉ để chân như tự hiện rồi.

Người hỏi Xuân đi về chốn ấy
Ta cười, chỉ khẽ uống trà thôi
Một sát-na tâm không vướng mắc
Đất trời đâu chẳng hóa Xuân tươi.


Tế Luân
Thiền trong mùa xuân.



TRẦN GIAN

Ta ngắm trần gian kiếp tảo tần
Thu về lá rụng phủ đầy sân
Gió dạt vàng phai theo bóng nguyệt
Thân này lữ thứ bụi phong trần.

Đời đến đời đi như quán trần
Sum vầy chốc lát đã ly phân
Quay đầu tỉnh mộng ai còn mất
Một thoáng hư không gió chuyển vần.

Tế Luân



TÂM THIỀN


Tâm thiền tuôn chảy một dòng sông
Thuyền nhẹ buông chèo thả giữa dòng
Đạo chiếu chân như tâm hướng thượng
Từ bi lan tỏa ấm men nồng.

Nhân duyên hội ngộ khởi từ sanh
Mây biếc tầng không rỗng lặng không
Tịch mặc lắng nghe rơi giọt nước
Tuyết sân thanh vắng gió mùa đông

Tế Luân
Chút lòng thiền.



NGHE TIẾNG ĐỜI

Tai nghe thế sự chạm vào nhau
Nhân ảnh lao xao cuốn bạc đầu
Mưa gió trùng vân dâng nghiệp lũ
Trần ai muôn nỗi dập niềm đau.

Ai còn mê mải cõi u sầu
Vọng tưởng trần gian, mãi chẳng mau
Thiền tuệ soi lòng tan huyễn mộng
Thiền quang lặng chiếu mặc gió sầu.

Tế Luân



LÒNG TRẦN

Lòng trần vương mắc lối u mê
Cõi mộng mờ giăng bóng não nề
Danh lợi ôm hoài thân lữ thứ
Đạo thiền lặng lẽ bóng sơn khê.

Quay gót tỉnh tâm rời cõi mê
Định tuệ soi đường lối trở về
Ma chướng tan dần trong tịch mịch
Thiền hành thanh thản gió đồng quê

Tế Luân


Thiền Là Gì?



Thiền là vầng trăng sáng
Đưa người đến tình thương
Khi tâm đang nhiễu loạn
Thiền chỉ lối đưa đường.

Nếu thiền gặp ma cảnh
Tâm sẽ phản bội người
Đem ta vào tà mị
Lạc mất hướng vào đời.

Thiền ở trong thánh địa
Nằm tận đáy tâm hồn
Chỉ khi tâm gạn đục
Sẽ nhận được nguồn ơn.

Thiền như người chiến sĩ
Xông pha giữa chiến trường
Phá tan cơn mộng dữ
Đem người đến tình thương.

Thiền là dòng sông chảy
Vào tận đáy cội nguồn
Thiền là hoa sen nở
Rực rỡ trong tâm hồn.

Tế Luân
Một cảm nghĩ buổi sáng uống trà
Đi vào giấc thiền quán chiếu,
Để trả lời câu hỏi Thiền là gì?


Nhân dịp ngày Tết, tiết trời xinh tươi, hoa xuân nở thắm. Trong tâm hồn người nghệ sĩ chợt lắng đọng, vấn vương một chút lãng mạn và nhàn hạ bước vào thơ văn.

Chúng ta hãy thử tìm hiểu sâu thêm về 
Mùa Xuân Với Thơ Thiền


MÙA XUÂN
Với Thơ Thiền


“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.”
(Mãn Giác thiền sư, đời Lý)

Tết Nguyên đang hiện diện đó là Tết Bính Ngọ 2026. Nhớ đến ngày Tết ở quê nhà thuở trước, mọi người đều rộn rã vui mừng đón chào một mùa xuân, nhớ lại những câu đối Tết

“Thịt mở dưa hành câu đối đỏ
Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh”

Và trên hè phố tấp nập người qua lại, hình ảnh ông đồ già ngồi viết những vần thơ chúc Tết, cũng không thể thiếu trong bức tranh Xuân.

Chúng ta đang sống tại Hoa Kỳ, chính xác hơn đang sống tại miền bác California, nơi mệnh danh là thung lũng điện tử Silicon Valley.

Chúng ta đón xuân trong tiết trời buốt giá mùa đông, cây cối trơ cành, không gian bao phủ bàng bạc màu sương rắng vào mỗi buổi sáng sớm. Cảnh vẫt mùa xuân, làm chúng ta nhớ đến những ngày nắng ấm ở quê nhà, nơi miền Nam Việt Nam thân thương. Hơi ấm và hương vị thơm tho từ tách trà lan toả, có làm ấm lòng của những kẻ tha hương?

Ngồi thưởng thức ly cà phê hay uống trà, đọc thơ, ngâm thơ, chăm sóc chậu hoa lan, hoa thủy tiên… là một trong những thú vui tao nhã của người Sài Thành xa xưa.

Bây giờ, chúng ta thử tìm lại hương Thiền trong những bài thơ Xuân…

Thơ Thiền là một loại thơ triết lý mà các thiền sư khi sáng tác đều có chuyên chở trong đó một nguồn đạo vị thâm thuý của triết lý nhà Phật, về cuộc đời và người đời. Thơ Thiền, nói chung là một cánh rừng đầy kỳ hoa dị thảo, luôn luôn toả hương tịnh yên và thoát tục.

Thiền sư Mãn Giác (ở vào thời Lý trong lịch sử nước ta) đã nhìn cảnh xuân rồi gửi gấm tâm tư của mình qua bài thơ Xuân như sau:

“ Xuân khứ bách hoa lạc
Xuân đáo bách hoa khai
Sự trục nhản tiền quá
Lảo tùng đầu thượng lai
Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.”
Mãn Giác thiền sư ( Xuân )

dịch:

“Xuân đi trăm hoa rụng
Xuân đến trăm hoa cười
Trước mặt việc đi mãi
Trên đầu già đến rồi
Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai”

Ngô Tất Tố dịch (Xuân )

Thiền sư Mãn Giác đã nhìn thấy cảnh Xuân và đã nhận định rằng thời gian và không gian là một dòng sinh diệt, biến chuyển không ngừng.

Mùa Xuân đến rồi mùa Xuân đi, hết mùa xuân. Hoa nở rồi hoa tàn, hoa tàn rồi hoa rụng. Việc gì ở đời đã xảy ra, rồi nó cũng sẽ qua, qua rồi cũng mất. Ngay cả con người cũng bị dòng sinh diệt của thời gian và không gian lôi cuốn vào vỏng sinh tử:

“Xuân khứ bách hoa lạc,
Xuân đáo bách hoa khai..
Sự trục nhản tiền quá
Lảo tùng đầu thượng lai”
Mãn Giác thiền sư ( Xuân)

Nhưng đứng trước dòng sinh diệt, cũng đừng khẳng định rằng mùa Xuân đi rồi thì hoa rụng hết, vì đêm qua vẫn còn vương lại một cành mai nở ở trong sân chùa thanh tịnh mà thiền sư đang trụ trì. “Một cành mai” (nhất chi mai) ấy tức là cái “chơn tâm” cái gì tốt đẹp vẫn trường tồn, vẫn vĩnh cửu trước dòng sinh diệt của thời gian:

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.”

Khái niệm về cuộc đời vô thường là một dấu ấn của triết lý đạo Phật. Sau ngày đạo Phật ra đời, trong triết học Tây phương có một triết gia là Heraclite cũng đã chủ trương mọi vật đều di chuyển như một dòng nước. Heraclite đã để lại câu nói thời danh là:

“Bạn không thể nào bước vào hai lần trong cùng một dòng sông; vì nước mát luôn luôn trôi chảy qua người bạn. Mỗi ngày mặt trời đều đổi mới.”

“You cannot step twice into the same river; for fresh waters are ever flowing in upon you. The sun is new every day”

Thiền sư Quang Giác (đời nhà Tống bên Trung Hoa) nhân khi mùa Xuân đến, thì nhớ lại ngày nào mình vẫn còn niên thiếu mà bây giờ tuổi đời đã bảy mươi, thời gian trôi quá nhanh như dòng nước chảy và vấn đề sinh tử là một vấn đề mà con người không thể nào tránh khỏi . Thầy viết:

“Khứ niên phùng thanh xuân
Châu nhan ánh đào lý
Kim niên phùng thanh xuân
Bạch phát yểm song nhỉ
Nhân sanh thất thập niên
Tất nhược đồng lưu thủy
Bất liễu bản lai tâm
Sanh tử hà do ly”

Dịch:

“Năm trước gặp thanh xuân
Má hồng khoe đào lý
Năm nay gặp thanh xuân,
Tóc bạc đầy cả mái
Người đời tuổi bảy mươi
Nhanh như dòng nước chảy
Chẳng ngộ tâm xưa nay,
Sanh tử làm sao khỏi”
Thích Thanh Từ thiền sư dịch

Trong những ngày đầu năm, người đời ai gặp nhau cũng đều chúc những lời tốt lành cho năm mới, có khi người ta lại chúc thọ, giả dụ như “Chúc cụ được thêm một tuổi thọ” Nói cách khác, người đời đã nghĩ theo hướng cộng thêm một tuổi thọ trong việc chúc tụng vào đầu năm.

Nhưng thiền sư Thiện Tùng (Trung hoa) thì lại có cách nhìn ngược chiều với người đời. Thầy nghĩ rằng mỗi khi Tết đến, mỗi khi Xuân về, là con người mất đi một năm sống, con người mất đi một tuổi thọ. Thiền sư Thiện Tùng đã trình bày cái nhìn nầy trong bài “Tuệ triều” nghĩa là “Ngày đầu năm”

“Kim triều tận dạo thiêm nhất tuế.
Ngộ đạo như kim giảm nhất niên
Tăng giảm khứ lai vô định số,
Duy năng tiều tận thế gian duyên
Tất tu thức đắc duyên trung chủ
Bách thiên vạn kiếp thường như nhiên
Vô tàng vô giảm như hà đạo
Nhất cú hà tu dụng khẩu truyền”

Dịch:

“Sáng nay đều bảo thêm một tuổi
Tôi nói hôm nay bớt một năm
Thêm bớt lại qua số khôn tính
Chỉ hay dứt sạch duyên thế gian
Cốt là biết được trong niên chú
Trăm ngàn ức kiếp thương an nhiên
Không bớt không thêm làm sao nói
Một câu nào thiết dùng miệng truyền”
Thích Thanh Từ thiền sư dịch (Ngày đầu năm)

Triết gia người Đức là Heidegger cũng đã chịu nhiều ảnh hưởng của tư tưởng Phật giáo khi ông bảo rằng “ Con người là hữu vị tử” tức là con người là một hữu thể đang đi dần tới chỗ chết từng giây, từng phút.

(Xem “Heidegger trước sự phá sản của tư tưởng Tây phương” của GS TS Lê Tôn Nghiêm do Lá Bối xuất bản tại Saigon năm 1969).

Từ quan điểm xem cuộc đời là vô thường, các thiền sư đi đến quan điểm cho rằng cuộc đời là một giấc mộng, cuộc đời là không có thực. Bởi thế nên con người cần trở về nguồn tức là trở về quê hương tốt đẹp muôn đời để tìm lấy một hạnh phúc an lành, đó là trở về cái đạo lý truyền thống của đạo Phật.

Thiền sư Triệu Long (Trung hoa) đã diễn bày quan niệm của Thầy như sau:

“Thoát thân dĩ hiểu nam kha mộng
Thử giác nhơn gian vạn sự không
Suy khứ hoàn hương vô khổng địch
Tịch dương tà chiếu bích vân hồng”
Thiệu Long thiền sư ( Mộng)

Theo thiền sư Thiệu Long thì khi con người thoát khỏi cái mê chấp sai lầm về thân mình thì chừng đó mới hiểu rỏ rằng cuộc đời chẳng qua chỉ là một giấc mộng nam kha. Con người sẽ biết rỏ rằng trong nhân gian nầy muôn việc đều trở về số không. Như vậy, con người phải trở về cái đạo lý của nhà Phật, tức là con người hãy trở về nguồn.

Nhưng trở về nguồn bằng cách nào?

Bằng tiếng sáo chiều vi vu trong cảnh trời chiều êm đềm, tiếng sáo nầy được phát ra từ một ống sáo không có lỗ nhưng lại có một âm hưởng vang dội để làm tỉnh thức con người.

Rồi thì con người sẽ thấy một cảnh trời chiều đẹp đẽ vô cùng khi trở về cố hương: đó là cảnh mặt trời chiều chiếu xuyên qua những đám mây thành rán chiều sắc đỏ. Đó là một cảnh thanh tịnh đầy hạnh phúc:

“Suy khứ hoàn hương cô khổng địch
Tịch dương tà chiếu bích vân hồng”

Cái quá khứ đã qua, qua mất rồi, cái hiện tại đang đến rồi cũng mất, cái tương lai sắp đến, đến rồi cũng đi.

Như vậy, ba thời “quá khứ- hiện tại- vị lai” đều mất.

Bởi vì, quá khứ cũng như vị lai đều là sự di chuyển của hiện tại, mà hiện tại rồi cũng mất, nên tất cả ba thời đều mất. Đã mất thì không có thực,

Nếu chúng ta hồi tưởng lại những quảng thời gian đã qua thì chúng ta sẽ nhận thức rõ một dòng thời gian hư ảo đã trôi qua quá nhanh: Hãy nhớ lại cuộc đời chúng ta vào những năm 10 tuổi, 20 tuổi 30,40,50,60 tuổi…đã lặng lẻ trôi như bóng ngựa vượt qua cửa sổ, như con thoi trong khung dệt vải chạy qua chạy lại rất nhanh.

Thực là một chuỗi mộng. Khi thời gian trôi đi thì bản thân của chúng ta cũng bị tiêu mòn theo năm tháng, sinh diệt từng giờ, từng phút từng giây từng sát-na [sát-na (Ksana) là một đơn vị thời gian rất ngắn, theo kinh sách Phật giáo thì một ý tưởng thoáng qua trong đầu đã có 90 sát na ).

Nếu ngày hôm qua là mộng, ngày nay là mộng và ngày mai cũng là mộng nữa sao? Như vậy, suốt đời chỉ là mộng không hay sao? Từ một tiền đề cuộc đời nầy là vô thường, cuộc đời là mộng ảo, các thiền sư còn tiến xa hơn nữa chứ các thầy không dừng lại tại đó.

Cứu cánh của tư tưởng Thiền là làm tỉnh thức con người đang bị mộng ảo che mờ lương tri, cho nên thiền sư sẽ hướng dẩn đệ tử của mình đi từ mộng để trở về nguồn là nơi tỉnh thức. Con người một khi ý thức được cỏi mộng thì chính con người đã tỉnh cơn mộng rồi vậy:

“Gá thân mộng, dạo cảnh mộng,
Mộng tan rồi, cười vỡ mộng.
Ghi lời mộng, nhắn khách mộng,
Biết được mộng, tỉnh cơn mộng.
Thiền sư Thanh Từ Mộng)



Thiền sư Thanh Từ là bậc cao tăng Việt Nam. Thầy là một thiền sư đạo cao, đức trọng, Phật pháp uyên thâm, thầy viết rất nhiều sách khảo cứu về đạo pháp và dân tộc rất có giá trị, đặc biệt là pháp môn toạ thiền. Mỗi lần Hòa thượng đăng đàn thuyết pháp thì phật tử tham dự rất đông, chật cả giảng đường. Giọng nói của thầy rỏ ràng, lời lẻ từ tốn, nét mặt an nhiên tươi cười, đặc biệt thầy có đôi mắt rất sáng chứa đựng nhiều thần lực.

Những phật tử say mê nghiên cứu triết lý đạo Phật và muốn thực hành pháp môn thiền toạ đều đến thọ giáo với thầy để được học hỏi nhiều hơn. Rất nhiều phật tử Việt Nam trước khi rời khỏi Saigon để đi định cư các nước khác như Pháp, Đức, Thuỵ sỉ, Hoa kỳ, Canada, Úc…họ đều đem theo các cuộn băng thu các buổi thuyết giảng của thầy để làm hành trang cho cuộc sống tâm linh.

Điểm tích cực trong tư tưởng của các thiền sư là họ luôn luôn tâm niệm rằng trong cái sinh diệt ảo mộng của cuộc đời còn có cái thường hằng, cái không sinh diệt ẩn tàng ở trong đó. Bởi thế nên tâm hồn của các thiền sư luôn luôn an nhiên tự tại. Bởi vì sự vận chuyển của thời gian chẳng có gì phải lo âu, đó là một sự thực hiện hữu trên cỏi đời nầy:

“Xuân đến, xuân đi ngỡ xuân hết,
Hoa nở, hoa tàn chỉ là xuân”
Chân Không thiền sư

Dòng sinh diệt của vũ trụ vạn hữu đều đi qua một vạn thể bất sinh, bất diệt.

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”
Mãn Giác thiền sư

dịch:

“Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua sân trước một cành mai”

Thiền sư nhìn cuộc đời vô thường với một quan điểm như sau:

Ảo mộng nằm trong cái thực hữu và ngược lại cái thực hữu nằm trong cái ảo mộng. Từ đó, thiền sư quan niệm con người không cần phải đi tìm chân lý ở đâu cả, vì chân lý không ở ngoài sự vật vô thường. Trong cùng một quan niệm nầy, Điều Ngự Giác Hoàng, sư tổ phái Trúc Lâm Yên Tử (đời Trần) nói về mùa xuân như sau:

“Niên thiếu hà tằng liệu sắc không
Nhất xuân tâm sự bách hoa trung
Như kim, khám phá Đông hoàng diệt
Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng”

dịch:

“Thuở bé chưa từng rỏ sắc không
Xuân về hoa nở rộng trong lòng
Chúa xuân nay bị ta khám phá,
Chiếu trải giường Thiền ngắm cánh hồng”
Thiền sư Thanh Từ dịch

Lúc hãy còn thiếu thời, Điều Ngự Giác Hoàng chưa xuất gia, và cứ mỗi độ xuân về trăm hoa trong vườn thượng uyển đua nhau nở để đón chúa Xuân thì ngài bị lôi cuốn, bị chói mắt trước muôn sắc lung linh, ngây ngất bởi làn hương ngạt ngào toả ra từ muôn ngàn cánh hoa nơi vườn thượng uyển.

Nhưng khi ngài khám phá được chân lý của vũ trụ thì tâm hồn của ngài trở nên lắng động, tự tại, an nhiên và không còn bị lôi cuốn bởi những hương sắc trong vườn thượng uyển. Khi đã ngộ rồi, thì từ đó việc hoa nở hoa tàn không còn khiến thiền sư phải quan tâm. Lúc ấy, dòng thời gian cuồn cuộn trôi, hiện tượng trong không gian luôn luôn chuyển mình sinh diệt, nhưng dưới cái nhìn của thiền sư vẫn thấy một thực tại hiện hữu vượt ra ngoài luật sinh diệt của thời gian và không gian.

Nằm trong quỷ đạo của triết lý thiền, các bài thơ thiền của các thiền sư đã dẫn trên tuy nói về mùa xuân nhưng chủ ý là gây một sự tỉnh thức nơi con người để tìm thấy được cái “chơn tâm” là cái gì hằng cửu.

Thiền là một hình thái của triết lý hiện sinh. Thiền giả phải thắp sáng hiện hữu của mình, phải ý thức được rõ ràng sự hiện sinh của chính mình, và phải ý thức được những hành động của mình trong cuộc sống hằng ngày để phân biệt được điều thiện và điều ác. Nhiều vị tự xưng là thiền sư nhưng chẳng biết phân biệt thiện ác, phải trái, thì họ chính là “thiền sư giả” mà thôi.

Một triết gia hiện sinh người Pháp là Albert Camus đã viết trong quyển L’étranger (Kẻ xa lạ) một câu như sau:

“Vivre comme un mort” (Sống như một người chết)

tức là nếu một người sống mà không biết rằng mình đang sống thì điều đó chẳng khác gì người đó là một người đã chết.

Người Trung Hoa ngày xưa đã nói:

“Tuý sinh mộng thử” (Sống say chết mộng) cũng cùng một ý nghĩa như trên.

Thiền gia không phải chỉ lo giúp cho mình được tỉnh thức mà còn phải có thái độ “dấn thân” tức là phải đi vào cuộc đời để giúp kẻ khác tỉnh thức và vượt ra ngoài những mê mờ vọng tưởng, vượt lên những tham vọng cá nhân. Thiền sư Thanh Từ đã thực hiện đường hướng này để thuyết pháp vào các buổi tất niên và các buổi đầu năm, vào các mùa xuân của quê hương Việt Nam, và nhiều bài thuyết pháp khác. Vào dịp tất niên năm Ất Mão (1975), Thầy đã giảng:

“Chúng ta thức tỉnh để tạo nghiệp lành […]. Nếu tính theo chiều sinh diệt thì thời gian rất là quí báu, hãy lợi dụng thời gian để chúng ta tạo tất cả phước lành.”

(Thanh Từ thiền sư, Bài thuyết pháp “Hạt chuỗi mộng ngày qua mất: Nghiệp thiện ác còn” vào tất niên Ất Mão (1975) tại Saigon)

Một đoạn giảng khác vào đêm giao thừa năm Giáp Dần (1974):

“Nhưng mà nếu tất cả thời gian là mộng, không gian là mộng, thì rồi chúng ta chìm luôn trong mộng đó hay sao?

Đức Phật Thích-Ca Mâu-ni đã dạy cho chúng ta rằng trong cái mộng ấy có cái không phải là mộng, cái đó là nền đạo đức của đạo Phật mà người Phật tử chân chính đang theo dõi nó và tìm thấy nó, để sống với nó. Cái không phải là mộng đó đối với toàn thể những cái mộng này lại có một giá trị to lớn vô cùng.

Vì vậy, khi chúng ta thấy đang bị cái hư ảo huyễn mộng chi phối thì đồng thời cũng nhận thấy chúng ta còn có cái không phải hư ảo, không phải huyễn mộng luôn có mặt với chúng ta. Điều đó rất đáng mừng! Mừng cho mình, nhưng khi mừng cho mình chừng nào thì lại thương cho những người đang lao mình trong mộng ấy rồi tạo nghiệp ác, gây khổ đau cho người khác. Thực đó là những người đáng cho chúng ta thương xót.

Chúng ta càng thương xót thấm thía đối với những người đang lao mình trong mộng mà tự họ không thức tỉnh được”

(Thanh Từ thiền sư, Bài thuyết pháp vào đêm trừ tịch, năm Giáp Dần (1974) tại Saigon)

Trong bài thuyết pháp vào mùa xuân năm 1977, thiền sư Thanh Từ giảng:

“chỉ cần có tâm lành, tâm thiện là được. Đó là cái vui nhỏ đầu tiên của người vào đạo.

Muốn bỏ được sự phiền muộn trong lòng, chúng ta phải thấy cuộc đời là vô thường, là ảo mộng. Nay chết, mai chết tới nơi, ôm hận mà làm gì. Đừng giận, đừng hờn để lo tu hạnh.

Do nghĩ cái chết sắp đến mà chúng ta buông xã được hết. Ai sống đời đây mà cứ giận hoài, buồn hoài. Cái buồn, cái giận đó chỉ làm khổ mình, khổ người mà không có lợi gì hết. Biết vậy, chúng ta phải buông hết. Vì cái chết đến nơi, chúng ta phải ráng để cho tâm an ổn. Đừng có buồn giận ai. Nghĩ đến vô thường mà hỷ, xã.

Chúng ta thấy cuộc đời như ảo mộng, ngày nay có mặt đây, ngày mai đã mất rồi. Sống trong tạm bợ, mình tạm bợ, người tạm bợ, mọi người đều sống trong tạm bợ. Tại sao không thương nhau, nâng đỡ nhau.”

(Thanh Từ thiền sư, Bài thuyết pháp: Những cái vui trong đạo Phật, mùa xuân 1977)

Đối với những người có tâm đố kỵ, tị hiềm, thiền sư Thanh Từ giảng rằng:

“Như ở thế gian thì nhiều người luôn luôn chịu đố kỵ hơn là tuỳ hỷ. Thấy người ta hơn mình là mình tức không bao giờ chịu chấp nhận, không bao giờ vui, vui với cái vui của người ta. Cho nên trong kinh điển, Đức Phật đã dạy: “Người nào phát tâm tuỳ hỷ thì công đức vô lượng vô biên”.

(Thanh Từ thiền sư, Bài thuyết pháp : Một mùa xuân hạnh phúc)

Trong một bài thuyết pháp khác, thiền sư cũng đã giảng:

“Sống trong cuộc đời mộng ảo mà nhiều người đua nhau giành giựt danh lợi. Rồi trong cái mộng đó, tạo không biết bao nhiêu đau khổ cho người khác. Đó là vì chúng ta không biết cuộc đời là ảo mộng.”

(Thanh Từ thiền sư, Bài thuyết pháp vào đêm trừ tịch, năm Giáp Dần 1974 tại Saigon)

Thầy thường lặp đi lặp lại nhiều lần như là một điệp khúc để cảnh tỉnh con người ra khỏi chốn mê lầm:

“ tất cả mọi người ở đây đang sống trong mộng mà không ai biết mình đang sống trong mộng lại cứ tưởng là thật, nên tranh nhau từ lời nói, từ hành động, từ miếng ăn, từ cáo mặc, đi đến mức gây đau khổ cho người khác và rồi tự gây khổ đau cho chính mình nữa.

Đã là một cuộc đời mộng, ở trong đó không đánh thức cảnh tỉnh nhau mà lại làm cho nhau thêm đau khổ. Tự mình đã khổ, còn làm khổ cho người, đây là một điều đáng thương.

Thương cho mình và thương cho mọi người. Nếu chúng ta thấy rõ thời gian là mộng ảo thì chính cuộc đời của chúng ta cũng là mộng ảo. Quý vị nhớ lại những người trước chúng ta, những người đồng thời với chúng ta và cả bản thân chúng ta đều là mộng.

Tại sao chúng ta không thức giấc mộng đó. Hết mộng này lại tạo mộng khác, hết mộng khác lại tạo mộng khác nữa. Cũng như vậy, chúng ta nhận thức rõ ràng cuộc đời là ảo mộng.

Ví như tôi đã nói đầu năm thấy cuối năm là xa, nhưng rồi cuối năm cũng sẽ đến . Rồi ngày mai nó qua, qua rồi mất. Đến cuối năm khác, cũng qua rồi mất. Chúng ta thấy ông bà cha mẹ chúng ta sanh đó rồi mất đó, tức là sanh rồi tử, một khi mất đi chúng ta không thể tìm hình bóng thân yêu lại nữa. Đến lượt chúng ta, hiện có đây, nhưng rồi cái ngày đó sẽ đến với chúng ta. Nó đâu còn xa nữa. Đến rồi qua, qua rồi mất. Sự hiện hữu của chúng ta ngày nay cũng là mộng thôi. Nếu nó thực thì nó đâu bị qua, đâu bị mất.

Mà nó phải qua rồi sẽ mất, thì tự nhiên nó không phải là thực rồi. Vậy thì, trong khi chúng ta còn ở đây, coi như mình đang sống trong mộng. Trong mộng thì phải làm sao thấy là mộng. Biết mộng tức là chúng ta đã tỉnh rồi.

…cho nên khi chúng ta biết rỏ là mình sống trong mộng , chúng ta phải tỉnh ngay khi biết chứ đừng để cho nó kéo dài cái mê. Đó là điều thiết yếu của cuộc đời mà cũng chính là cái then chốt trong sự tu hành”

Thanh Từ thiền sư , bài thuyết pháp vào dịp Tất niên 1978

“Cái gì rồi cũng đến, đến rồi qua, qua rồi mất”.

Ngày vía Đức Phật Di Lặc tức là ngày Tết Nguyên Đán, ngày mồng một của năm mới, Thiền sư đã giảng một bài pháp để hướng dẩn người phật tử đi tìm hạnh phúc ở trong cỏi đời điên đảo nầy:

“Hạnh phúc từ đâu mà có? Hạnh phúc từ cái xả mà có, chứ chúng ta cứ ôm ấp ôm ấp phiền não trong lòng hoài thì làm sao mà hạnh phúc được. Quý vị nhớ, nếu trong gia đinh chúng ta không xã được, cứ giận vợ giận con hoài thì cũng không vui. Ra ngoài xã hội cứ nhớ người nầy ăn hiếp mình, người kia nói gác mình, người nọ khinh mình, gì gì đó, người ôm trong lòng cả bụng như vậy, thì người đó lúc nào cũng đau khổ, lúc nào cũng là phiền não hết. Hãy nghĩ rằng lời nói gác mình của người nào đó như gió thổi ngoài tai, rồi ngũ khò không thèm nhớ, thì đó là hạnh phúc chớ gì. Người nào mà trong nhà cũng như ở ngoài gặp cái gì phật ý, xem đó là lở lầm của người và nó không là cái gì quan trọng hết, không có gì để mình phải phiền muộn hết, người nào đạt được điều nầy thì mới là con người hạnh phúc”

Thanh Từ thiền sư ( Bài thuyết pháp nhân ngày vía Đức Phật Di Lặc, ở Saìgon 1980)

Thiền sư Giác Hải ( ở vào đời Lý) nhân một bài thơ thiền nói về mùa xuân cũng đã nói lên rằng chỉ có cái “chơn tâm” mới là cái bất sanh bất diệt, nên mọi người cần phải “hướng tâm trí” (giữ tâm bền chặt):

“Xuân lai hoa điệp thiên tri thì,
Hoa điệp ung tu cộng ứng kỳ.
Hoa điệp bản lai giai thị huyễn,
Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.”
(Giác Hải thiền sư, ở đời Lý)

dịch:

“Xuân về hoa bướm gặp nhau đây,
Hoa bướm phải cần hợp lúc nầy,
Hoa bướm xưa nay đều là huyễn,
Giữ tâm bền chặc bướm hoa thây.”
(Thanh Từ thiền sư dịch)

Khi mà con người giữ được cái chân tâm, cái tâm thiện hằng cửu thì “cảnh xuân, khách xuân, thơ xuân…” là cái gì đẹp đẻ, vui tươi luôn luôn hiện hữu nơi tâm hồn chúng ta mãi mãi. Khắp cả bầu trời đều là Xuân, đó là điều mà một thiền sư người Trung Hoa là Phật Nhãn đã viết trong một bài thơ thiền nổi danh như sau:

“Xuân nhựt xuân sơn lý,
Xuân sự tận giai xuân,
Xuân quang chiếu xuân thuỷ,
Xuân khí hết xuân vân.
Xuân khách xuân tình động,
Xuân thi xuân cánh tân.
Duy hữu thức xuân nhơn,
Vạn kiếp nguyên nhứt xuân.
(Phật Nhãn thiền sư, Xuân)

dịch:

“Ngày xuân xuân trong núi,
Việc xuân thấy đều xuân.
Hồ xuân ánh xuân chiếu,
Khí xuân kết mây xuân.
Khách xuân lòng xuân động,
Thơ xuân xuân càng tươi.
Chỉ có người biết xuân.
Muôn kiếp một mùa xuân”
(Thanh Từ thiền sư dịch)

Tôi xin mượn bài thơ thiền của Phật Nhãn thiền sư nói về xuân để kết luận bài viết này.

Sưu tầm trên Google Search
Biên soạn -  Tế Luân
Ngày 29 Tết Bính Ngọ. Đón giao thừa.
Thung Lũng Hoa Vàng -Miến Bắc Califronia
02-16-26





Tế Luân Sưu Tầm

Văn Bút VNHN giới thiệu trang cá nhân nhà thơ Tế Luân



Maryland 14.2.2026
Kính thăm quý Văn hữu VBVNHN


Cung Lan (Chủ Tịch VBVNHN) Kính chuyển đến quý văn hữu "Hoa Hồng Tình Nhân - Valentine. Tình Khúc Tế Luân"

https://youtu.be/2-jWCrUe1ME?si=RXuUZiEvhD-4Ws7T

Kính mời quý văn hữu thưởng thức thêm các thi văn nhạc phẩm khác trong trang tác giả Tế Luân

https://vietpen.org/le-tuan/

Kính chúc quý văn hữu ngày mới vui vẻ
Cung Thị Lan

Lê Tuấn trân trọng cám ơn VBVNHN đã giới thiệu.
Xin đa tạ
Tế Luân

TẾT ĐOÀN VIÊN

Xuân về khói ấm mái nhà xưa
Bánh chưng xanh gói nghĩa tình vừa
Mâm cơm kính cẩn dâng tiên tổ
Hương trầm quyện gió tiếng thoi đưa.

Con cháu quây quần bên bếp lửa
Lời thăm cha mẹ ấm tim già
Ơn sinh dưỡng, biển trời cao rộng
Tết về, hiếu đạo nở như hoa.

Đường xuân áo mới người qua lại
Trai gái gặp nhau ánh mắt cười
Có duyên bén gió thành đôi lứa
Kết nghĩa trăm năm trọn một đời.

Chúc nhau phúc lộc đầy năm tháng
Công thành danh toại vững non sông
Tiền tài như nước xuân tuôn chảy
Gia đạo an vui, Tết mãi hồng

Tế Luân


Nhân dịp gần Tết tôi lại nhớ đến thời gian tôi đang bị lưu đầy

trong trại tù tập trung cải tại tại Miền Bắc VN.
Ngày Tết năm 1979, đêm giao thừa tôi đã viết ca khúc Xuân Vẫn Mang U Hoài. (Nhạc và lời Lê Tuấn)
tôi viết ca khúc này trên tờ giấy bao xi măng, khi ra tù về nhà tôi đã viết lại.
Sau này định cư tại San Jose CA. Tôi đã nhớ lại, và gửi về VN nhờ Đõ Hải soạn hòa âm,
Tôi đã thực hiện một Music Video, xin được chia sẻ cùng qu1y vị.
Ca khúc mùa xuân nhưng hơi buốn, vì còn bị tù tội.


https://www.youtube.com/watch?v=tKLi_7dXJmg

Tại sao từ năm 2025 đến 2032 Không Có Ngày 30 Tết



Vì Sao Năm Nay Không Có Ngày 30 Tết



Nhiều người băn khoăn, việc không có ngày 30 Tết liệu có ảnh hưởng đến các nghi lễ trong dịp Tết?

Trong 8 năm liên tiếp, từ 2025 đến 2032, tháng Chạp sẽ chỉ có 29 ngày và giao thừa sẽ rơi vào ngày 29 Tết Nguyên đán thay vì ngày 30 như nhiều năm.

Giao thừa Tết Nguyên đán 2026 sẽ diễn ra vào đêm thứ hai, ngày 16/2 dương lịch, tức 29 tháng Chạp năm Ất Tỵ.

Từ năm 2026 đến năm 2032, giao thừa năm nào cũng sẽ diễn ra vào ngày 29 tháng Chạp, không có ngày 30.

Nhiều người vì thế cảm thấy Tết ngắn hơn, mọi việc chuẩn bị cho ngày Tết vì thế trở nên tất bật, gấp gáp hơn.

Tết nhiều năm liền không có ngày 30, điều này xuất phát từ công thức tính lịch pháp.

Theo cách tính lịch pháp âm lịch, ngày mùng 1 mỗi tháng được bắt đầu từ điểm sóc ( là điểm mà Mặt Trời, Mặt Trăng, Trái Đất thẳng hàng). Thời gian của một tháng sẽ bắt đầu từ điểm sóc này đến điểm sóc kế tiếp.

Do chu kỳ thực của Mặt Trăng là xấp xỉ 29,5 ngày và số ngày trong tháng được làm tròn. Vì vậy có thể làm tròn lên 30, hoặc làm tròn xuống 29 ngày và phát sinh tháng đủ (30 ngày) tháng thiếu (29 ngày).

Do trùng hợp về mặt toán học, nên từ năm 2025 đến 2032 sẽ liên tục xuất hiện tháng 12 âm lịch chỉ có 29 ngày.

Điều này có nghĩa là thời điểm Mặt Trăng hoàn toàn tròn lần này tới điểm hoàn toàn tròn tiếp theo là khoảng 29,53 ngày. Vậy nên các tháng âm lịch thay phiên nhau có 29 hoặc 30 ngày để bù trừ sao cho khớp với một chu kỳ"

Sự trùng hợp 8 năm không có ngày 30 Tết không gây ảnh hưởng tới chu kỳ thời tiết, có chăng chỉ liên quan tới thói quen sinh hoạt và các hoạt động chuẩn bị cho những ngày Tết.

Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, bản chất của Tết không nằm ở số ngày nhiều hay ít, mà ở tinh thần sum vầy, sự hướng về gia đình và những giá trị tốt đẹp của năm mới. Khi mỗi người chủ động sắp xếp, chuẩn bị từ sớm, thì dù giao thừa diễn ra vào ngày 29 hay 30, ý nghĩa thiêng liêng của Tết Nguyên đán vẫn được giữ trọn vẹn.




TẾT ĐOÀN VIÊN

Xuân về khói ấm mái nhà xưa
Bánh chưng xanh gói nghĩa tình vừa
Mâm cơm kính cẩn dâng tiên tổ
Hương trầm quyện gió tiếng thoi đưa.

Con cháu quây quần bên bếp lửa
Lời thăm cha mẹ ấm tim già
Ơn sinh dưỡng, biển trời cao rộng
Tết về, hiếu đạo nở như hoa.

Đường xuân áo mới người qua lại
Trai gái gặp nhau ánh mắt cười
Có duyên bén gió thành đôi lứa
Kết nghĩa trăm năm trọn một đời.

Chúc nhau phúc lộc đầy năm tháng
Công thành danh toại vững non sông
Tiền tài như nước xuân tuôn chảy
Gia đạo an vui, Tết mãi hồng


Tế Luân



Giải thích thêm về những tù ngữ khó hiểu:
như Lich Pháp là gì? - Thờ điểm Sóc là gì?

1. Lịch pháp là gì?

Lịch pháp là hệ thống nguyên tắc và công thức khoa học dùng để:

Xác định ngày – tháng – năm

Quy định độ dài của các tháng

Xác định năm nhuận, tháng nhuận

Phối hợp chu kỳ Mặt Trăng – Mặt Trời

👉 Ở Việt Nam và các nước Đông Á, Tết Nguyên đán được tính theo Âm lịch – một loại Âm dương lịch, chứ không phải Dương lịch thuần túy.


2. Đặc điểm cốt lõi của Âm lịch Việt Nam

Âm lịch Việt Nam dựa trên chu kỳ Mặt Trăng quay quanh Trái Đất:

1 chu kỳ trăng (tháng âm lịch) ≈ 29,5306 ngày

Vì không thể có nửa ngày, nên:

Tháng âm lịch chỉ có 29 ngày (tháng thiếu) hoặc 30 ngày (tháng đủ)

👉 Quy tắc then chốt:

Nếu thời gian giữa hai lần Sóc (trăng non) < 29,5 ngày → tháng 29 ngày

Nếu ≥ 29,5 ngày → tháng 30 ngày


3. Vì sao tháng Chạp nhiều năm liền chỉ có 29 ngày

(2025–2032)?

🔹 Nguyên nhân hoàn toàn KHÔNG phải ngẫu nhiên

Từ năm 2025 đến 2032, các yếu tố thiên văn đồng loạt trùng khớp:

Chu kỳ trăng rơi vào dạng ngắn

Thời điểm Sóc cuối năm đến sớm hơn

Khoảng cách giữa:

Sóc đầu tháng Chạp

Sóc đầu tháng Giêng năm sau
→ đều < 29,5 ngày

➡️ Do đó, tháng Chạp buộc phải là tháng thiếu (29 ngày)

📌 Đây là kết quả của phép tính thiên văn chính xác, không thể “thêm” ngày 30 theo ý muốn con người.


4. Vì sao giao thừa rơi vào 29 Tết liên tiếp?

Giao thừa = đêm cuối cùng của năm âm lịch

Khi tháng Chạp chỉ có 29 ngày, thì:

29 Tết chính là ngày cuối năm

Không tồn tại ngày 30 Tết

👉 Vì vậy:

Từ Tết 2026 đến Tết 2032

Giao thừa đều là đêm 29 tháng Chạp

📌 Điều này không có gì bất thường trong lịch sử lịch pháp.


5. Tết có thực sự “ngắn hơn” không?

KHÔNG

Tết Nguyên đán được xác định bởi:

Thời điểm chuyển năm

Tiết khí Lập Xuân

Số ngày nghỉ là do quy ước xã hội, không phải do lịch pháp

👉 Cảm giác “Tết ngắn” là vì:

Mất đi ngày 30 Tết – vốn là ngày chuẩn bị, sắm sửa

Nhịp sinh hoạt hiện đại nhanh hơn

Áp lực công việc, di chuyển, truyền thông

Kết luận ngắn gọn

✔️ Lịch pháp là khoa học thiên văn – không phải mê tín
✔️ Tháng Chạp 29 ngày là kết quả tất yếu của chu kỳ trăng
✔️ Giao thừa 29 Tết không làm mất Tết

✔️ Giá trị Tết nằm ở văn hóa, không nằm ở số ngày.


Những bức tranh đẹp tượng trưng cho TẾT
































Cảm Nghĩ Về Ngày Lễ Tình Nhân - Valentine



TƯ TƯỞNG CỦA MỘT VĂN THI NHẠC SĨ

TRONG NGÀY LỄ TÌNH NHÂN


        Tôi vẫn thường ví mình là một (Người nghệ sĩ lang thang hoài trong tâm tưởng). Lang thang không phải vì không có điểm đến, mà vì tình yêu vốn không có ranh giới cố định. Nó dẫn dắt tôi qua những câu thơ còn dang dở, những giai điệu chưa tròn, và những bài thơ, những trang văn chương còn thơm mùi cảm xúc.

        Trong hành trình ấy, ngày lễ tình nhân (Valentine) hiện ra như một dấu lặng đẹp giữa bản nhạc đời sống hối hả.

        Valentine, thoạt nhìn, là một ngày lễ dành riêng cho những đôi lứa yêu nhau. Hoa hồng, sô-cô-la, thiệp đỏ, rượu vang và những lời hẹn thề dường như đã trở thành “ngôn ngữ phổ thông” của ngày này.

        Nhưng nếu nhìn sâu hơn bằng con mắt của một thi sĩ, Valentine không chỉ là sự phô bày của tình yêu đôi lứa, mà là sự công nhận thiêng liêng của nhân loại đối với cảm xúc cao quý nhất của con người: yêu và được yêu.

        Tình yêu trong tư tưởng của người nghệ sĩ không bao giờ đơn giản. Nó có thể là niềm hạnh phúc run rẩy khi hai ánh mắt chạm nhau, cũng có thể là nỗi cô đơn mênh mang của kẻ yêu trong im lặng.

        Valentine vì thế không chỉ dành cho những người đang nắm tay nhau, mà còn dành cho những tâm hồn từng yêu, đang yêu, hoặc vẫn đang học cách yêu chính mình.

        Với tôi, đó là ngày mà mọi cảm xúc, dù tròn đầy hay dang dở, đều được quyền tồn tại và được nâng niu, được trân trọng.

        Vậy vì sao nhân loại cần một ngày Valentine? Có lẽ bởi giữa guồng quay khắc nghiệt của đời sống, con người cần một khoảnh khắc để dừng lại và tự hỏi:

        - Ta đã yêu thương đủ chưa?

        Ngày lễ này nhắc nhở ta rằng, bên cạnh lý trí, tham vọng và nghĩa vụ, trái tim vẫn cần được lắng nghe. Nó nhắc ta can đảm nói lời yêu, học cách thành thật, biết tha thứ, và biết giữ gìn những rung động mong manh mà thời gian rất dễ làm phai nhạt.

        Với suy tư của một nhà thơ, nhà văn hay nhạc sĩ nghiệp dư như tôi, Valentine còn là một nguồn cảm hứng thầm lặng.

        Đó là ngày mà dòng suy tư hiện lên theo từng con chữ dường như mềm hơn, từng nốt nhạc dễ chạm đến trái tim hơn.

        Không phải để ca tụng một tình yêu hoàn hảo, mà để tôn vinh chính khát vọng yêu thương, thứ đã khiến con người trở nên nhân bản, dịu dàng và sâu sắc hơn.

        Sau cùng, ý nghĩa lớn nhất của Valentine có lẽ không nằm ở món quà ta nhận được, mà ở cảm xúc ta sẵn sàng trao đi.

        Đối với người nghệ sĩ lang thang trong tâm tưởng, đó là ngày để tiếp tục lên đường, mang theo tình yêu như hành trang duy nhất, và dùng thơ ca, văn chương, âm nhạc để thì thầm với thế gian rằng:

        (khi con người còn biết yêu, thế giới vẫn còn hy vọng).




VALENTINE

KHÚC THÌ THẦM CỦA TRÁI TIM


Valentine trở về
thành phố bỗng dịu đi trong ánh đèn đêm
những con đường học lại cách yêu
bằng cánh hồng đỏ thắm
bằng vị sô-cô-la ngọt ngào trên môi
và bằng bàn tay khẽ chạm
giữa dòng đời vội vã trôi qua.

Có người yêu nhau bằng ánh nhìn
chỉ chạm nhẹ thôi
tim đã lỡ một nhịp nhớ
Có người yêu nhau bằng lặng im
để nỗi thương thầm lớn dần
như vầng trăng non đầu tháng.

Tình yêu đâu chỉ là
hai bóng hình chung một lối
mà là giữa muôn nẻo rẽ nhân gian
ta vẫn gọi thầm tên một người
như gọi chính tên mình
trong sâu thẳm trái tim.

Valentine không hỏi
ta đang cô đơn hay hạnh phúc
chỉ khẽ đặt vào tim
một câu hỏi rất nhỏ:
Hôm nay, ta đã yêu đủ chân thành chưa?

Nếu em có người để nắm tay
hãy nắm thật chặt
như thể ngày mai
thế giới có thể đổi thay.

Nếu em đi một mình
hãy học cách yêu chính mình trước đã
bởi trái tim biết tự yêu
sẽ chẳng bao giờ lạc lối.

Valentine rồi khép lại
hoa cũng tàn, đêm cũng cũ
chỉ có tình yêu
một tình yêu thật sự
sẽ ở lại rất lâu
trong suốt một đời người.

Tế Luân




        Từ dòng suy tư của một người nghệ sĩ lang thang hoài trong tâm tưởng. Tôi đã viết bài thơ. Hao Hồng Tình Nhân – Valentine

HOA HỒNG TÌNH NHÂN

Cành hồng vừa nở đóa xinh tươi
Anh gửi về em trọn tiếng cười
Valentine hồng say sắc thắm
Cho tình ta mãi chẳng phai phôi.

Nghe bước thời gian dệt gió mưa
Sông thu lặng lẽ bến thuyền đưa
Hương hoa chớm nở hồn say đắm
Mây nước bềnh bồng gió thoảng đưa.

Anh đem hồng thắm đến bên em
Nụ hôn nồng cháy ướt môi mềm
Ly rượu sóng sánh men tình ái
Nến đỏ đêm dài lửa ấm thêm.

Giai điệu yêu thương chợt ngân dài
Thơ anh hoà nhạc khúc mê say
Ái ân như thuở tình vừa ngỏ
Tóc xoã bờ vai mộng khói bay.

Hương xuân ngào ngạt má hồng hây
Tim em rạo rực phút sum vầy
Hồn em khép nhẹ hoa trinh nữ
Ngày ấy tình yêu đã rót đầy.

Anh trao bó hồng đến bên em
Nụ hôn cháy bỏng ướt môi mềm
Rượu vang đỏ, chết lịm. . . đêm tình ái
Valentine… tình yêu mãi mãi . . . ở bên em.

Tế Luân



        Bài thơ tự nó đã mang theo một giai điệu âm nhạc, một giai điệu chưa thành tiếng. Do đó tôi đã thêm vào đó một giai điệu và hòa âm thật hay cho âm nhạc.
        Hoa Hồng Tình Nhân – Valentine, là khúc tình ca Valentine được viết nên để tôn vinh tình yêu đôi lứa, từ những rung động đầu tiên cho đến nghĩa tình bền chặt của những người đã yêu nhau và trở thành vợ chồng.
        Ca khúc mang giai điệu Ballads Tango Argentina (Bản tango cổ điển) nồng nàn, quyến rũ, chậm rãi mà sâu lắng, như nhịp bước của hai trái tim hòa chung trong một điệu vũ yêu thương.
        Lời ca thấm đẫm chất thơ, lấy hình ảnh hoa hồng, rượu vang đỏ, ánh nến và nụ hôn làm biểu tượng cho sự say đắm, thủy chung và khát khao gắn bó trọn đời. Qua từng giai điệu, ca khúc kể lại hành trình tình yêu đi qua thời gian, gió mưa và những mùa thương nhớ, để rồi đọng lại trong phút giây sum vầy ấm áp.
        Hoa Hồng Tình Nhân – Valentine, không chỉ là món quà dành cho ngày Valentine, mà còn là lời chúc phúc dịu dàng gửi đến những đôi tình nhân đang yêu nhau, đã yêu nhau và đã trở thành vợ chồng, nơi tình yêu được rót đầy, thăng hoa và mãi mãi ở bên nhau.
        Tình khúc Hoa Hồng Tình Nhân Valentine được dàn dựng bằng hệ thống hình ảnh số và công nghệ AI tiên tiến, mang lại hiệu ứng thị giác sống động và giàu cảm xúc.
        Tác phẩm được chính tôi (Editor Louis Tuấn Lê) biên tập, trau chuốt bằng các kỹ thuật hậu kỳ cao cấp, từ xử lý hình ảnh, nhịp dựng cho đến cân chỉnh âm thanh đạt độ hoàn thiện cao. Sự kết hợp hài hòa giữa công nghệ và nghệ thuật đã nâng tầm trải nghiệm thưởng thức, đưa người xem chạm đến một cao độ cảm xúc tinh tế và cuốn hút hơn.
Trân trọng
Lê Tuấn




Xin mời thưởng thức ca khúc. Hao Hồng Tình Nhân - Valentine.
Giai điệu Tango Argentina (Tango Cổ Điển). 




Mùa Xuân Trong Cách Nhìn Thiền Học - Thơ Thiền

MÙA XUÂN Trong Ánh Nhìn Thiền Học “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận, Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.” (Mãn Giác Thiền Sư)                      ...