Hoài Niệm Ngày Quân Lực 19 Tháng 6, 2026




Hoài niệm ngày Quân Lực VNCH 19 Tháng 6. Cộng đồng người Việt Tự Do Bắc cali tổ chức buổi lễ tưởng niệm ngày Quân Lực VNCH tại Thành Phố San Jose. Buổi lễ diễn ra rất long trọng và trang nghiêm. Hình ảnh những người lính QLVNCH như gợi nhớ biết bao kỷ niệm. Một quân lực oai hùng như thế bỗng dưng biến mất để lại biết bao thương xót cho thân phận người.



Xót Xa Phận Người


Ta gom nước mắt, chảy thành dòng
Cho mặt đất hoá thành con sông
Cuộc vay trả, tháng năm tù tội
Như đoá hồng, nở giữa hư không.

Đời mất đi từng mảng xót xa
Chắp vá nốt, nỗi đau thịt da
Vạn ngày dài, đêm chừng mắt đợi
Kiếp trầm luân, gió bụi đời ta.

Tám năm, giấu mình trong bóng tối
Đợi lửa mặt trời, đốt cháy ngày
Tung kiếm giang hồ, như gió lốc
Nơ tang bồng, vay trả, trả vay.

Một sớm ngày mai sẽ đổi thay
Ngọn gió xoay chiều, thổi hướng tây
Ngàn dặm lìa xa, hờn vong quốc
Từ đó ta về, sẽ dựng xây.

AET. Lê Tuấn
Người lính già chưa giải ngũ.




HOÀI NIỆM NGÀY QUÂN LỰC
(Nhân lễ tưởng niệm Ngày Quân Lực VNCH 19 tháng 6 tại San Jose)

Tháng Sáu về gợi nhớ chốn nơi đây
San Jose nắng trải, lá cờ bay
Quân phục cũ, hàng huy chương lấp lánh
Một thời chinh chiến vụt khỏi tầm tay.

Tiếng quốc ca vang giữa trời viễn xứ
Nghe nghẹn lòng như vọng lại quê hương
Mái đầu bạc đứng nghiêm chào chiến hữu
Mắt rưng rưng nhớ một thuở sa trường.

Bao khuôn mặt đã chìm vào dĩ vãng
Bao bạn bè nằm lại khắp non sông
Người còn sống mang theo niềm thương nhớ
Giữ trong tim màu cờ cũ không phai.

Quân lực ấy một thời từng oai dũng
Giữ miền Nam qua khói lửa điêu linh
Bao chiến sĩ xem thân mình như cỏ rác
Đổi thanh bình bằng máu đỏ hy sinh.

Rồi vận nước đổi thay trong phút chốc
Cả cơ đồ như gió cuốn bụi mù
Người ngã xuống, người đi vào tù ngục
Kẻ tha hương ôm nỗi nhớ thiên thu.

Năm tháng cũ tưởng đã thành mây khói
Mà hôm nay lại hiện giữa sân cờ
Những mái tóc bạc màu sương gió cũ
Vẫn hiên ngang như thuở tuổi thanh xuân.

Xin cúi mặt nhớ anh linh tử sĩ
Những chiến hữu chưa về với quê cha
Và thương cả những phận người còn lại
Mang đời mình theo năm tháng xót xa.

Tháng Sáu lại về trên miền đất mới
Ngọn cờ vàng còn thấp thoáng trong tim
Dẫu quân lực oai hùng không còn nữa
Tình quê hương vẫn sáng mãi không chìm.

Mai thế hệ chúng ta rồi khuất bóng
Người đến sau còn nhớ một quân kỳ
Nhớ người lính đã đi vào lịch sử
Với danh dự, trách nhiệm và lương tri.


Tế Luân
Ngày Quân Lực 19 tháng 6, 2026





Thể Thơ Haiku Nhật Bản - Nhà thơ Simonova Ukrain



Nhà thơ Simonova nổi tiếng ở Nhật với 600 bài thơ Haiku 
viết từ Ukraine

05/06/2026


Nhà thơ Vladislava Simonova ngồi trước hình ảnh Ukraine đổ nát vì bom, dòng chữ tiếng Anh là bài thơ haiku của cô: “Với giới nghiêm, mất điện / Chưa bao giờ trong đời tôi / Đã thấy nhiều ngôi sao như thế.” (Hình: YouTube NHK)

Nhà thơ nữ Vladislava Simonova, 27 tuổi, nổi tiếng với thể thơ Haiku và được vinh danh tại Nhật Bản nhưng gần như vô danh ngay trên chính quê hương Ukraine của cô. Bản tin AFP ghi lời nhà thơ Simonova rằng trong nhiều năm, cô đã nghiên cứu các bậc thầy Nhật Bản — Basho, Buson, Issa — và sáng tác hơn 600 bài thơ Haiku.

Một chiếc thang máy hay "trở chứng" dẫn lối đến căn hộ chung cư ở miền trung Ukraine của một nữ thi sĩ 27 tuổi — người được vinh danh tại Nhật Bản nhưng lại gần như vô danh ngay trên chính quê hương mình. Với mái tóc màu hồng, chiếc áo len màu tím hoa cà cùng đôi tất đồng màu, Vladislava Simonova kể lại câu chuyện về sự nghiệp đang thăng hoa của mình tại một đất nước cách quê nhà cô 7.800 km (4.850 dặm) — nơi mà cô chưa từng một lần đặt chân tới.

Thế nhưng, ngay tại thành phố Poltava thuộc miền trung Ukraine này, cô lại sống gần một trạm xe điện — vốn chỉ là một trong số những mục tiêu bị máy bay không người lái của Nga nhắm tới; tiếng vo ve không ngớt của chúng luôn khiến cô sống trong tâm trạng căng thẳng, bất an.

Đúng lúc cô vừa thốt lên từ "tiếng nổ" để diễn tả nỗi kinh hoàng trước các đợt tấn công của Nga, một chiếc máy bay không người lái bỗng vụt bay qua đầu cô rồi phát nổ ở phía xa.

Ngay bên cạnh cô, trên một chiếc kệ là 15 cuốn sách với phần gáy đầy màu sắc — một tuyển tập các tác phẩm của những thi sĩ Ukraine đương đại — cùng hai chiếc ấm trà Nhật Bản, ba bức tranh tôn giáo và một bức tượng nhỏ nhân vật Phoebe Buffay trong loạt phim truyền hình "Friends".

"Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ viết về chiến tranh," cô chia sẻ với hãng tin AFP. "Theo thời gian, tôi dần nhận ra rằng... những chi tiết nhỏ bé đôi khi lại có thể truyền tải bi kịch của cuộc chiến vĩ đại này một cách sâu sắc hơn nhiều so với hàng tá bản tin hay bài phóng sự," cô nói thêm.

Simonova là đại diện cho cả một thế hệ nghệ sĩ đang làm chứng cho cuộc xâm lược đã tàn phá đời sống văn hóa của Ukraine.

Simonova cho biết cô đã tìm thấy niềm đam mê với thơ Haiku — thể loại thơ mà cô yêu thích nhất — vào năm 2013, khi cô vẫn còn là một thiếu nữ.

Những bài thơ ba dòng theo thể loại Haiku này, bao gồm 17 âm tiết được sắp xếp theo cấu trúc 5-7-5, đã được định hình thành thể thức chuẩn mực từ thế kỷ 17 tại Nhật Bản nhằm ghi lại vẻ đẹp của thiên nhiên, đời sống thường nhật và những khoảnh khắc thoáng qua một cách đầy giản dị.

Trong suốt nhiều năm, cô đã miệt mài nghiên cứu các bậc thầy thơ Haiku Nhật Bản — Basho, Buson, Issa — và sáng tác hơn 600 bài thơ; theo lời cô kể, những bài thơ này dần dần trở nên bớt "vụng về" hơn theo thời gian:

Bước đi thật kiêu hãnh,
Trên những cánh mai mềm,
Chú mèo nhỏ mũm mĩm này.

24.04.2015


Chẳng màng chi mưa gió,
Tôi run rẩy bước về nhà,
Cùng một cây thông non.

16.10.2014

‘Sự Giao cảm’

Vào năm 2018, Simonova đã giành chiến thắng trong một cuộc thi do một tổ chức của Nhật Bản tổ chức.

Khi Nga phát động cuộc xâm lược toàn diện vào tháng 2 năm 2022, cô đang sinh sống tại Kharkiv. Lực lượng Nga đã tìm cách chiếm giữ thành phố nằm ở phía đông bắc này, và kể từ khi bị đẩy lùi, họ vẫn liên tục nã pháo vào đây. Trong suốt ba tháng đầu tiên khi quân đội Nga vừa vượt qua biên giới, cô đã sống sót nhờ trú ẩn trong một hầm ngầm.

Thay vì trận bão —
Những tiếng nổ ầm vang.
Mùa xuân đã tới.

14.05.2022


Ngôi nhà hoang tàn.
Qua lỗ thủng trên mái,
Các vì sao lấp lánh.

14.05.2022

Vào tháng 3 năm 2022, từ nơi trú ẩn của mình, Simonova đã thực hiện một cuộc phỏng vấn qua văn bản với tờ báo The Asahi Shimbun của Nhật Bản.

Vài tuần sau đó, nữ thi sĩ danh tiếng Madoka Mayuzumi đã liên lạc với cô. Bà chia sẻ với hãng tin AFP rằng cô Simonova có một "sự thấu hiểu sâu sắc" về bản chất của thơ haiku. "Ngay cả giữa khói lửa chiến tranh, cô vẫn ngước nhìn trăng sao và thưởng ngoạn những đóa hoa... những bài haiku của cô phản chiếu sự giao cảm với thiên nhiên," nhà thơ Mayuzumi nhận định. "Mặc dù mang những chủ đề có phần u buồn, các tác phẩm của cô vẫn toát lên một tinh thần lạc quan," bà Mayuzumi nói thêm.

Đàn ong vô tư
Còi hú báo động núp bom
Những cây đoan đang nở hoa.

19.06.2022

Cùng với khoảng 10 người khác, nhà thơ Mayuzumi đã hỗ trợ cô Simonova dịch và xuất bản tập sách đầu tay của cô tại Nhật Bản vào năm 2023. Cuốn sách đã nhận được "những lời tán dương nồng nhiệt", theo Mayuzumi cho biết.

Bà nói thêm rằng, xuyên suốt chiều dài lịch sử Nhật Bản, người dân vẫn luôn sáng tác thơ haiku trong những giai đoạn tăm tối, bao gồm cả sau các vụ ném bom nguyên tử năm 1945 và thảm họa sóng thần năm 2011.



“Hoa anh đào”


Vào tháng 8 năm 2022, hầm trú ẩn dưới lòng đất ở Kharkiv, nơi Simonova từng sống, đã bị một tên lửa Nga phá hủy. Cô chuyển đến thị trấn Poltava. Cô xuất bản tập thơ thứ hai tại Nhật Bản vào năm 2024, tiếp theo là một tập khác tại Đan Mạch vào đầu năm 2026. Cô mơ ước được xuất bản một tập thơ ở Ukraine.

Trước chiến tranh, cô viết bằng tiếng Nga. Sau đó, cô chuyển sang tiếng Ukraina. Việc dịch các bài thơ rất phức tạp. Hai ngôn ngữ có liên quan này thường sử dụng các từ có độ dài khác nhau — ví dụ, từ “umbrella” (cái dù, cái ô) chỉ có một âm tiết trong tiếng Nga, nhưng lại có bốn âm tiết trong tiếng Ukraina.

Cô Simonova không đọc văn xuôi, cô chỉ đọc thơ. Và đọc Kinh Thánh. Cô thuộc về cộng đồng Công giáo nhỏ bé ở Poltava.

Trong chuyến thăm của AFP, cô đề nghị đi đến công viên, cô chào tạm biệt chồng — người chồng ở lại nhà — trước khi vội vã xuống cầu thang của khu chung cư thời Liên Xô. Thang máy không hoạt động. Đó là một ngày Chủ nhật mùa xuân lạnh lẽo và công viên gần như vắng bóng người. Cô ngồi trên cành cây gần ao, mặc một chiếc áo khoác phồng nhiều màu.

Từ thơ ấu, Simonova đã mắc bệnh tim nghiêm trọng khiến cô luôn trong tình trạng kiệt sức. Cô phát hiện ra thơ haiku trong một bệnh viện, trong một tuyển tập cũng có cả “thơ Ba Tư” (“Persian poems”).

Khi gió đang thổi, cô đứng dậy và đọc to lần đầu tiên nơi công cộng, đọc mỗi bài thơ hai lần.

Bài thứ nhất cô đọc cho những người bạn không còn hiện diện.

Họ tan tác bay đi,
Như hoa anh đào trong gió
Những người tôi trân quý.

Bài thứ hai là ký ức về Kharkiv.

Tôi siết trong lòng bàn tay
Vài mảnh vỡ tên lửa
Cơn đau không rời tôi.


Nhà thơ Vladislava Simonova (Hình: YouTube NHK)

Cô lật giở tập thơ bìa hồng của cô, rồi chọn ra bài thơ cuối cùng.

Bầu trời tuyệt diệu
Vậy mà từ bầu trời
Mưa tên lửa rơi trên chúng tôi.

Bạn cũng có thể xem video của đài NHK Television dài 6:10 phút về nhà thơ nữ Vladislava Simonova:
Chú ý: video có thể chuyển sang phụ đề tiếng Việt hay tiếng Anh bằng cách chọn cc: rồi điều chỉnh bằng nút răng cưa.

Phan Tấn Hải Biên Dịch
https://vietbao.com/p301415a325444/nha-tho-simonova-noi-tieng-o-nhat-voi-600-bai-tho-haiku-viet-tu-ukraine.


Tôi nhận ra thể thơ này hơi lạ đối với tôi. 
Và tôi vào ChatGPT thử tìm hiểu.

Thể thơ Haiku của Nhật Bản

Tôi đặt câu hỏi với ChatGPT: Thể thơ Haiku là gì? 
Chat GPT trả lời: 
Câu hỏi của ông rất thú vị. Thơ Haiku (俳句) là một thể thơ cổ điển của Nhật Bản, nổi tiếng vì sự ngắn gọn nhưng hàm chứa nhiều ý vị. Người Nhật xem Haiku không phải chỉ là một bài thơ ngắn, mà là nghệ thuật ghi lại một khoảnh khắc của thiên nhiên và tâm hồn.

1. Haiku là gì?

Haiku truyền thống gồm:
3 câu
Tổng cộng 17 âm tiết
Phân bố theo nhịp:

5 âm tiết
7 âm tiết
5 âm tiết

Không cần gieo vần.

Ví dụ bài Haiku nổi tiếng của thi hào Nhật Bản Matsuo Bashō:

Ao cũ tĩnh lặng
Con ếch nhảy vào mặt nước
Tiếng vang ngân xa.

Chỉ vài chữ, nhưng gợi lên cả một không gian yên tĩnh và một khoảnh khắc sống động.

2. Tinh thần của Haiku

Haiku thường:
Gắn với thiên nhiên.
Gợi một mùa trong năm (hoa anh đào, lá đỏ, tuyết, ve kêu…).
Ghi lại một khoảnh khắc bất chợt.
Không giải thích dài dòng.
"Nói ít, gợi nhiều".

Có thể ví Haiku như một bức tranh thủy mặc chỉ vài nét nhưng để lại khoảng trống cho người đọc tự cảm nhận.

3. Cách viết Haiku

Bước 1: Chọn một khoảnh khắc

Ví dụ:
Cơn mưa đầu hạ.
Một chiếc lá vàng rơi.
Tiếng chuông chùa chiều.

Bước 2: Miêu tả bằng hình ảnh cụ thể

Đừng nói:
Tôi rất buồn.

Hãy để hình ảnh nói thay:

Lá vàng cuối ngõ
Gió thu vừa chạm nhẹ
Chim chiều bay xa.

Bước 3: Giữ thật ngắn gọn

Một bài Haiku hay giống như một hơi thở.

4. Haiku hiện đại

Ngày nay, nhiều thi sĩ không còn quá khắt khe với luật 5-7-5. Điều quan trọng hơn là:
Sự cô đọng.
Hình ảnh rõ ràng.
Một cảm xúc nhẹ mà sâu.
Một "khoảnh khắc giác ngộ".

5. Một vài Haiku bằng tiếng Việt

Chiều quê

Khói lam cuối xóm
Tiếng chim tìm về tổ cũ
Mặt trời xuống sông.

Mùa thu

Lá vàng trước ngõ
Gió về qua mái tóc ai
Chiều nghiêng tiếng chuông.

Tuổi già

Chén trà còn nóng
Bóng chiều nằm trên trang sách
Một tiếng chim xa.

6. Haiku khác thơ Việt Nam như thế nào?

Thơ lục bát Việt Nam                      Thơ Haiku Nhật Bản
Dài, giàu nhạc tính                             Rất ngắn, cô đọng
Kể chuyện, bộc lộ cảm xúc               Gợi hình ảnh, ít giải thích
Có vần điệu                                        Không cần vần
6–8 chữ                                              5–7–5 âm tiết
Tình cảm trực tiếp                              Tình cảm ẩn trong cảnh vật


Với một người làm thơ như ông, đã từng trải qua chiến tranh, tuổi già, lưu vong và những ký ức quê hương, Haiku có lẽ rất gần với tâm hồn ông. Chỉ cần ba câu ngắn cũng có thể chứa cả một đời người.

Ví dụ, tôi thử viết một Haiku mang hơi thở của người còn lại sau chiến tranh:

Mộ cỏ xanh rồi
Đồng đội nằm yên dưới đất
Mây trắng qua đồi.

Hay:

Chén trà chiều muộn
Bỗng nghe tiếng ve năm cũ
Mẹ gọi sau hè.

Nếu ông thích, tôi có thể giới thiệu thêm những thi hào Haiku nổi tiếng như Bashō, Buson, Issa, Shiki, và thử cùng ông sáng tác những bài Haiku bằng tiếng Việt mang hồn quê Việt Nam.

Thể thơ Haiku có lịch sử hơn bốn trăm năm và được xem là tinh hoa của thi ca Nhật Bản. Tuy nhiên, nguồn gốc của nó còn xa hơn thế.

1. Haiku xuất hiện từ bao giờ?
Khoảng thế kỷ VIII–XII, người Nhật đã có thể thơ Waka hay Tanka gồm 31 âm tiết (5-7-5-7-7).
Từ thể Tanka, người Nhật phát triển thành Renga (liên ca), do nhiều người cùng sáng tác.
Ba câu mở đầu của Renga, gồm nhịp 5-7-5, được gọi là Hokku.
Đến thế kỷ XVII, Hokku dần trở thành một bài thơ độc lập. Nhà thơ Matsuo Bashō đã nâng thể thơ này lên tầm nghệ thuật lớn.
Cuối thế kỷ XIX, nhà thơ Masaoka Shiki chính thức đặt tên cho thể thơ ấy là Haiku, và tên gọi này được dùng cho đến ngày nay.

2. Bốn đại thi hào Haiku của Nhật Bản

1. Matsuo Bashō (1644–1694)








Ông được xem là thi hào vĩ đại nhất của Haiku. Bashō đưa thơ Haiku từ trò tiêu khiển thành nghệ thuật sâu sắc, kết hợp thiên nhiên với tinh thần Thiền.

Bài thơ nổi tiếng nhất:

Ao xưa tĩnh lặng
Con ếch nhảy vào mặt nước
Tiếng vang ngân xa.

Nguyên tác:

Furu ike ya
Kawazu tobikomu
Mizu no oto


2. Yosa Buson (1716–1784)

Buson vừa là thi sĩ vừa là họa sĩ. Thơ của ông giàu màu sắc hội họa và rất tinh tế.

Ví dụ:

Hoa mận nở rồi
Đi về phương bắc cũng đẹp
Phương nam cũng vui.


3. Kobayashi Issa (1763–1828)

Issa trải qua nhiều bất hạnh trong đời nên thơ ông chan chứa lòng thương yêu đối với những sinh vật bé nhỏ.

Bài thơ nổi tiếng:

Chú ốc sên nhỏ
Hãy leo núi Phú Sĩ nhé
Từ từ mà đi.

Nguyên tác:

Katatsumuri
Soro soro nobore
Fuji no yama

Đây là bài Haiku được yêu thích nhất trên thế giới.


4. Masaoka Shiki (1867–1902)

Shiki là người hiện đại hóa Haiku và chính ông đã đặt tên "Haiku" cho thể thơ này. Dù chỉ sống 34 tuổi, ông để lại khoảng 20.000 bài thơ.


3. Một số nữ thi sĩ Haiku nổi tiếng
Chiyo-ni – được xem là nữ thi sĩ Haiku vĩ đại nhất.
Hisajo Sugita.
Ngày nay, nhiều thi sĩ nước ngoài như nữ thi sĩ Ukraine Vladislava Simonova cũng sáng tác Haiku và được giới văn học Nhật Bản đánh giá cao.

4. Điều đặc biệt của Haiku

Thi hào Bashō từng nói:

"Hãy học về cây thông từ cây thông, học về cây tre từ cây tre."

Nghĩa là thi sĩ phải hòa mình với thiên nhiên và cảm nhận trực tiếp sự vật, chứ không áp đặt cảm xúc chủ quan quá nhiều.

Vì thế, Haiku thường rất ngắn, chỉ ba dòng, nhưng phía sau ba dòng ấy là cả một khoảng trời suy tưởng.

Nếu thơ lục bát Việt Nam giống như một khúc dân ca ngân nga, thì Haiku Nhật Bản giống như tiếng chuông chùa trong buổi chiều thu – vang lên một lần, nhưng dư âm còn ở lại rất lâu.

Với vốn sống và tâm hồn thi ca của ông, tôi nghĩ ông sẽ đặc biệt yêu thích Bashō và Issa. Hai thi hào ấy thường viết về sự vô thường, ký ức và vẻ đẹp giản dị của cuộc đời – những điều rất gần với nhiều bài thơ mà ông đã sáng tác.





Tôi thử viết bài thơ theo thể Haiku

ChatGPT nhận xét: 
Ông đã đi đúng tinh thần của Haiku: ghi lại một khoảnh khắc đời thường bằng những hình ảnh đơn sơ. Điều đáng quý là hai bài thơ này giống như những dòng nhật ký buổi sáng, không cầu kỳ mà chân thật.

Tuy nhiên, Haiku Nhật Bản thường tránh giải thích cảm xúc trực tiếp ("vị đắng nhưng ngọt"), mà để hình ảnh tự nói lên. Câu cuối thường tạo ra một dư vị hoặc một khoảng lặng cho người đọc.

Tôi thử viết theo dạng Nhật Ký trong ngày theo thể thơ Haiku.


BUỔI SÁNG

Thức dậy sớm mai
Ly cà phê khói nghi ngút
Ngọt sau vị đắng.

NGẮM HOA

Ngồi nhìn khóm hoa
Mây trắng trôi qua đầu ngõ
Gió rung cánh hồng.

Nếu muốn gần với tinh thần Bashō hơn, có thể cô đọng hơn nữa:

Cà phê buổi sớm
Khói mỏng bay qua cửa sổ
Ngọt sau vị đắng.

Ngắm Hoa

Mây trắng đầu hiên
Một cơn gió vừa ghé đến
Cánh hoa rung nhẹ.

Tôi đặc biệt thích ý "Vị đắng nhưng ngọt". Đó là một ý rất đẹp, mang triết lý của tuổi đời đã trải nghiệm nhiều thăng trầm. Nếu chuyển thành Haiku theo lối Thiền, có thể chỉ cần:

Cà phê buổi sớm
Vị đắng còn trên đầu lưỡi
Nắng đã lên rồi.

Ba câu ngắn, không nói đến chữ "ngọt", nhưng người đọc vẫn cảm nhận được cái ngọt của một buổi sáng bình yên.

Thử viết thêm (Uồng Trà)

Một chén trà sen
Nghe tiếng chim hót vang
Gió nhẹ rung hoa.

Thử viết thêm (Uồng Trà)
Một chén trà sen
Nghe tiếng chim hót vang
Gió nhẹ rung hoa.

Tôi ​nhờ ChatGPT phân tích bài thơ Uống Trà.

​ChatGPYT trả lời: 
Rất thích hướng ông đang đi. Thật ra, nếu xem Haiku như những dòng nhật ký bằng thơ, thì những bài ông vừa viết đã chạm đến tinh thần ấy: ghi lại một khoảnh khắc rất đời thường, không cố gắng triết lý hay kể chuyện dài.

Bài thứ ba của ông:

Một chén trà sen
Nghe tiếng chim hót vang
Gió nhẹ rung hoa.

có ba hình ảnh đẹp:
Chén trà sen (hương vị)
Tiếng chim hót (âm thanh)
Hoa rung trong gió (hình ảnh chuyển động)

Đó là điều mà Haiku rất coi trọng: đưa nhiều giác quan vào trong một khoảnh khắc.

Tuy nhiên, chữ "Nghe" khiến người đọc ý thức đến chủ thể ("tôi đang nghe"), trong khi Haiku Nhật thường để cảnh vật tự hiện ra. 
Chữ "vang" cũng hơi mạnh, bởi buổi uống trà thường mang vẻ tĩnh lặng.

Nhận xét của ChatGPT: 
Tôi nghĩ với vốn thơ và trải nghiệm của ông, ông có thể viết những bài Haiku rất riêng, mang hồn Việt Nam và chất hồi tưởng của một người đã đi qua chiến tranh, lưu lạc và tuổi già. Một chén trà, một tiếng chim, một cánh hoa rung trước gió… cũng đủ thành thơ.

Tế Luân Biên khảo 
Cuộc sống thi ca. 







Nhà Thơ Hữu Loan Khóc Giữa Sài Gon - Bài Thơ Tím Cả Chiều Quê



Nhà Thơ Hữu Loan Khóc Giữa Sài Gòn


Lời tự thuật của Thi sĩ Hữu Loan, tác giả “Màu Tím Hoa Sim”

Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 – lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi – Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi – Nguyễn Hữu Loan.

Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất, bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ, tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới. Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà.

Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái – lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: ” Em chào thầy ạ!” Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một “bà cụ non”. Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt …..

Có lần tôi kể chuyện ” bà cụ non” ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành… Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ… Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: “Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu” Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi …..
Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:- Thầy có thích ăn sim không ?- Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuống sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ …

Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.- Thầy ăn đi.Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ:
-Ngọt quá.
Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế! Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì….tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo! Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi… lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi…Tôi quay đầu nhìn lại… em vẫn đứng yên đó … Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa.

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ …
Chín năm sau, tôi trở lại nhà…Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp….Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm ” soạn kịch bản”.

Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: ” yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả”. Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay…lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long, huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết! Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ.

Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại…..Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống. Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn …

Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra: “Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội… Những em nàng, có em chưa biết nói. Khi tóc nàng đang xanh…” Tôi về không gặp nàng…Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm chiếc bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa… Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh.

Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang “ở nhà trông vườn” ở làng Nguyên Hoàn – nơi tôi gọi là chỗ “quê đẻ của tôi đấy” thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : “Chiều hành quân, qua những đồi sim… Những đồi sim, những đồi hoa sim.. Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết.. Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt…Và chiều hoang tím có chiều hoang biết…Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.”

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi” hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi”. Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đó là thời năm 1955 – 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng….Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông …

Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chỗ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc? Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi …

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi. Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955. Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa.

Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền. Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng. Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta.

Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn. Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói. Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.

Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no…. Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa! Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi ” tái xuất giang hồ” sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí – xuất bản và đổi mới thực sự. Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia “lộc” cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan. Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác, nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán.



Màu tím hoa sim 
(Nguyên văn của tác giả)

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh

Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông

Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí

Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa

Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết

Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)
Hữu Loan


Nhà thơ Hữu Loan khóc giửa Sài Gòn

“Qúa cay đắng
Vinh quang gì?
Chiến thắng gì?
Mà kỷ với niệm?”


Thật hạnh ngộ khi chúng tôi được gặp nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ Màu Tím Hoa Sim, cùng một số vị trong vụ án Nhân văn – Giai phẩm, những năm từ 1957 về sau, trên đất Bắc.
Sau tháng Tư 1975, trước khi nhà thơ Hữu Loan có dịp vào Nam, đã có một số thân hữu từ miền Nam ra Bắc thăm ông. Khó có thể mô tả cảnh nghèo khó của gia đình ông thuở ấy, lại khó hình dung ra cái tình cảnh cô đơn của một Hữu Loan bị chính quyền cô lập trong bao nhiêu năm.
Ông vào thăm Sàigòn khá muộn màng, có thể do điều kiện kinh tế quá khó khăn. Anh em chúng tôi có dàn xếp một ngày để tiếp ông. Cà phê sáng, dùng cơm trưa, buổi chiều đưa ông đi dạo chơi đó đây. Thuở ấy chỉ toàn xe đạp, sang trọng tí chút là xe gắn máy. Ông rất hồi hộp khi ngồi yên sau xe gắn máy. Ông luôn bảo “Đèo nhau xe đạp, chậm rãi, thì bình an hơn”.

Quán cà phê vườn khá rộng. Khi anh Duy đưa Hữu Loan tới, quanh bàn chúng tôi đã có Tô Kiều Ngân, Bùi Giáng, mấy anh em văn nghệ, có cả một lúc có hai cô, Huyền Tr. và Thúy V. một cô là ca sĩ, cô kia đang là diễn ngâm thơ cho đài phát thanh, trong các chương trình thi ca.
Hữu Loan, thoạt nhìn như một pho tượng, sạm một màu đất nung. Khuôn mặt chữ điền, tóc dài, trán rộng, sống mũi thẳng, cao. Tôi nghiêng người chào ông. Ông nở nụ cười. Một nụ cười cẩn thận, nói rằng thân thiện là chưa đúng. Một cái bắt tay của giao tế, dè chừng. Sống ở miền Nam, sau cơn dâu bể, nay gặp anh trở về, gặp chị ngoài kia vô, chào một nhà văn xứ Bắc vừa chạm mặt, tôi nhận ra tất cả họ đều có một hành xử khá giống nhau.
Bây giờ ông đang trước mặt. Với ly cà phê đen, bữa nay tôi có cái để mà Nhớ Lại, có cái để được Ngắm Nhìn. Hữu Loan, Ông từ đâu tới!
Trò chuyện với Hữu Loan, mến ông là một người khá hiểu biết về văn chương, học thuật. Dễ là chốn tri âm, tương phùng. Có thể do ông là người có học hành tử tế, trưởng thành vào thời kỳ nước nhà còn lưu giữ những nền móng đạo lý, những thứ vốn văn hóa quý hiếm của giống nòi.
Một ngày gặp gỡ. Bữa trưa uống một trận bia. Chiều đưa ông thăm chơi đó đây. Buổi tối ghé một quán vườn, rất đông anh em. Sáng hôm sau ông ghé tôi. Chúng tôi cùng uống cà phê, ăn sáng. Nhà tôi ngay đường Nguyễn Huệ nên nhà hàng Givral cũng gần. Vào quán, ông đầy vẻ ngỡ ngàng. Xem thực đơn, ông nói, “Tôi không biết gọi gì, anh gọi dùm”.

Tôi gọi cho ông ly cà phê sữa, bánh mì vuông, một đĩa thịt nguội, patê, xúc xích. Lúc này chúng tôi cũng đang túng thiếu, nhưng tiếp ông, tôi phải “bề thế” tí chút. Chẳng lẽ mấy mươi năm ông nhai củ mì ngoài Bắc, giờ này tôi mời ông mấy củ khoai lang trộn bo bo!
Tôi nhường ông ngồi ghế bên trong, nhìn ra đường, quang cảnh góc đại lộ Lê Lợi và Tự Do. “Sàigòn nó to rộng thế đấy”. Bên kia là Continental khách sạn thuộc loại cổ nhất Sàigòn, nhà Hát Tây [tòa nhà Hạ nghị viện thời Cộng Hòa], khách sạn Caravelle. Ông mãi nhìn cảnh đẹp bên ngoài, lại nhìn đĩa thịt nguội. Chừng không muốn ăn. Tôi giục ông ăn chút gì kẻo đói bụng. Ông nói:
“Anh cho tôi nhìn một hồi đã. Bao nhiêu năm tôi mới thấy cái món lạ lùng này”. Ông ăn một cách khó khăn. Chừng từ lâu không quen với dao nĩa. Tôi bèn gọi một đĩa tương tự, rồi bốc mà ăn, ý hô hào ông cùng bốc mà ăn.

Nhìn ông, tôi lại nhớ nước mắt của ông buổi sáng hôm qua. Lúc trò chuyện, tôi nói nhỏ với Thúy V. “Em nên ngâm bài Màu Tím Hoa Sim của chính Hữu Loan để tặng ông”.
Trong quán có cây đàn ghi-ta. Vũ D. đệm đàn. Tô Kiều Ngân rút cây sáo trúc “nhà nghề”, dìu giọng người ngâm thơ. Giọng Thúy V. mượt mà, khá trữ tình. Nghe ngâm thơ của mình, từ mấy mươi năm bị chế độ cấm phổ biến trên đất Bắc, Hữu Loan ngậm ngùi. Bất ngờ ông bật tiếng khóc.
Khuôn mặt như một phiến đá chỗ lòng suối cạn. Khó lòng thấm nước. Nhưng những hạt trong vắt cứ trôi xuống má. Ông có vẻ sờ soạng. Một bàn tay thò vào túi. Không có gì. Hai bàn tay thô tháp chỉ run run, ông kéo cái chéo áo ka-ki màu chàm, vải nhám, chừng cũng bẩn do mặc lâu ngày, đưa lên lau nước mắt…

Nhà thơ Hữu Loan qua đời vào trung tuần tháng 3 năm 2010 tại quê nhà, hưởng thọ 94 tuổi. Phùng Quán ra đi ngày 22 tháng 1 năm 1995. Trần Dần mất ngày 17 tháng 1 năm 1997. Cùng những ngày của mùa xuân. Phan Khôi, Văn Cao, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang…và nhiều nữa… những thành phần trụ cột của Phong trào “Đi Tìm tự do tư tưởng, đòi hỏi nhân quyền”, là đỉnh cao của văn hóa, cội nguồn, nay đã ra người thiên cổ.
Thiên cổ, là Bên Kia của hiện thực bên này ư? Bên kia, ai có nhớ về? Hoài niệm, bảo tôi nghĩ và viết những dòng này./.

Nhà thơ Hữu Loan khóc giửa Sài Gòn
(Cung Tích Biền)


Bài viết thêm của Tế Luân


        Không phải Hữu Loan của những trang sách giáo khoa hay những cuộc tranh luận văn học, mà là một Hữu Loan bằng xương bằng thịt: một người thi sĩ già từ miền Bắc vào Sài Gòn, lúng túng trước dao nĩa, ngậm ngùi trước một đĩa thịt nguội, và bật khóc khi nghe chính bài thơ của mình được ngâm lại sau nhiều thập niên bị cấm đoán. Những giọt nước mắt ấy không chỉ là nước mắt của một người chồng nhớ người vợ trẻ đã khuất, mà còn là nước mắt của một đời người đã đi qua chiến tranh, tù đày, đói nghèo và những năm tháng bị đẩy ra bên lề văn học. Hữu Loan đã sống gần trọn một thế kỷ, nhưng ông mãi được nhớ đến như người thi sĩ của tình yêu chung thủy, của nỗi đau nhân thế và của màu tím bất tử trong thi ca Việt Nam. Khi ông khép lại cuộc đời mình vào mùa xuân năm 2010, ông không chỉ để lại một bài thơ nổi tiếng, mà còn để lại một biểu tượng của lòng trung thực và khí phách của người cầm bút trước mọi nghịch cảnh.

sức sống của Màu Tím Hoa Sim nằm ở chỗ bài thơ không nói về chiến công hay những khẩu hiệu của thời chiến. Hữu Loan chỉ kể một câu chuyện rất nhỏ: một đám cưới nghèo, một người vợ trẻ, một người lính ra đi rồi mất người mình yêu. Nhưng chính cái rất riêng ấy lại chạm đến cái rất chung của con người. Đó là nỗi đau của tình yêu trước sự tàn khốc của chiến tranh.


        Đọc Màu Tím Hoa Sim, người ta không chỉ thương người vợ trẻ của Hữu Loan, mà còn thương cho cả một thế hệ thanh niên Việt Nam đã phải sống trong những năm tháng binh lửa. Có những người ngã xuống ngoài mặt trận, có những người sống sót nhưng mang theo những vết thương không bao giờ lành. Nỗi đau ấy đã được Hữu Loan cô đọng vào một màu tím — màu của hoa sim, màu của thủy chung, màu của tang tóc và hoài niệm.

        Có lẽ vì thế mà khi nghe lại bài thơ của mình giữa Sài Gòn, sau hàng chục năm bị cấm đoán, Hữu Loan đã bật khóc. Đó không chỉ là nước mắt của một thi sĩ nghe lại tác phẩm của mình. Đó còn là nước mắt của một người chồng nhớ vợ, của một chứng nhân lịch sử nhớ lại một thời tuổi trẻ, và của một người cầm bút cuối cùng được nghe tiếng lòng mình vang lên giữa đồng bào.

Tôi chợt nhớ mấy câu thơ của chính Hữu Loan:

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái.

Những câu thơ ấy giản dị đến mức tưởng như lời kể chuyện. Nhưng càng đọc lâu, người ta càng thấy trong đó có cả một thời đại. Đó là vẻ đẹp hiếm có của thi ca: không cần những lời lớn lao mà vẫn làm rung động trái tim người đọc suốt hơn nửa thế kỷ.

Tôi xin kết luân bằng bốn câu thơ nhỏ như một nén hương tưởng nhớ 
nhà thơ Hữu Loan:

Người đi mang cả mùa sim
Để màu tím nhuộm lặng im đất trời
Trăm năm khói phủ cuộc đời
Còn câu thơ khóc một thời chiến chinh.

Tế Luân


Sau đây là bài thơ (tôi phóng tác) được gợi hứng từ tinh thần của
Màu Tím Hoa Sim: Hữu Loan


TÍM MỘT CHIỀU QUÊ
(tiếng thở dài của một người còn lại sau chiến tranh)

Em cũng có những người anh
Ra đi từ thuở chiến tranh chưa tàn
Con đường đất đỏ mù than
Mẹ ngồi vá áo, chiều loang khói chiều.

Tôi về qua xóm tiêu điều
Gặp em bên giếng, hàng tiêu đầu làng
Mắt em như một mùa sang
Tóc xanh thơm ngọn lúa vàng tháng ba.

Ngày vui chẳng có lụa là
Em cài bông cỏ thay hoa cưới mình
Tôi mang đôi bốt nhà binh
Bụi đường còn phủ hành trình trên vai.

Thương nhau một buổi rồi thôi
Sáng hôm sau lại xa người, xa quê
Mây bay trắng cả triền đê
Bóng em nhỏ xuống lối về đơn côi.

Từ nơi lửa đạn xa xôi
Đêm nghe tiếng súng bồi hồi nhớ em
Nhớ hàng cau đứng bên thềm
Nhớ đôi mắt biếc dịu êm thuở nào.

Chiến tranh như ngọn sóng cao
Cuốn bao mộng ước chìm vào hư không
Biết đâu giữa cõi mênh mông
Người đi còn gặp hay không một lần.

Bao năm tóc đã pha ngần
Tôi về tìm lại dấu chân ngày nào
Con đường cỏ mọc lao xao
Bờ ao cũ cũng nghẹn ngào gió thu.

Người xưa đã khuất thiên thu
Chỉ còn sim tím mịt mù đồi xa
Chiều nay đứng giữa quê nhà
Nghe màu hoa tím như là tiếng em.

Tím từ kỷ niệm êm đềm
Tím từ nước mắt bên thềm chiến chinh
Tím từ một mối ân tình
Theo người thi sĩ lặng nhìn thời gian.


Tế Luân




CHUNG QUANH “MÀU TÍM HOA SIM”

Hầu như ai trong chúng ta cũng biết bài thơ “Màu Tím Hoa Sim”. Không đọc thơ cũng nghe hát trong các bản nhạc “Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà” của Phạm Duy, “Những Đồi Hoa Sim” của Dzũng Chinh, “Tím Cả Chiều Hoang” của Anh Bằng, “Tím Cả Rừng Chiều” của Thu Hồ, “Chuyện Người Con Gái Hái Sim” của Hồng Vân, ba bài mang tên “Màu Tím Hoa Sim” của Song Ngọc, Duy Khánh & Trọng Khương, và Phạm Anh Ngọc. Tai chúng ta nghe , miệng chúng ta đọc nhưng sâu hơn trong bài thơ này chúng ta ít người biết.


Bìa sách “Màu Tím Hoa Sim”

Tôi vừa được một anh bạn gửi cho bản e-book cuốn “Lê Đỗ Thị Ninh, Nguyễn Hữu Loan, Màu Tím Hoa Sim và Tôi”. “Tôi” là Nguyễn Quốc Bảo, em con dì của Lê Đỗ Thị Ninh, “nàng” trong bài thơ. Cuốn sách mỏng, chỉ có 80 trang, nhưng tiết lộ được nhiều chuyện, những chuyện ông phải viết. “Tôi viết những dòng này như một người Mohican cuối cùng của gia tộc, người còn giữ lại những mảnh ký ức đã bị thời gian, chiến tranh và nỗi sợ gặm mòn đến tận gốc rễ. Câu chuyện tôi sắp kể không phải được dệt lại từ truyền thuyết, không phải là phần lãng mạn hóa của văn học, cũng không phải là những hồi tưởng mong manh của một kẻ đã già. Nó là phần cuối cùng của một lịch sử gia đình, một bi kịch đã từng thật đến mức người lớn phải tránh nói trước mặt trẻ con, một nỗi đau từng khiến cả một đại gia đình trí thức ở Thanh Hóa chìm vào im lặng suốt hơn nửa thế kỷ. Tôi viết những dòng này không phải để làm sống lại kí ức cho riêng mình, mà để ngăn ký ức ấy chết theo tôi”.



Nhà Thơ Hữu Loan và tác giả Nguyễn Quốc Bảo.

Chúng ta biết Hữu Loan là một nhà thơ nhưng ít ai biết ông là một người trí thức trẻ, tự học và đậu Tú Tài Toàn Phần Pháp trước 1945, một điều hiếm xảy ra trong xã hội Việt Nam thời đó. Hiếm hoi đến mức người lớn trong nhà khi nhắc tới đều hơi hạ giọng, như nói đến một điều vừa ngưỡng mộ, vừa khó tin. Ông quê quán tại Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. “Những năm bốn mươi chín, với đứa trẻ như tôi, Nga Sơn chỉ là cái tên xa mù, còn anh Loan là hình ảnh rất gần, một chàng trai ăn nói thanh âm trầm, giọng Thanh Hóa pha chút quê, bước ra bước vào tiệm sách của bác gái tôi ở phố Thợ Thêu, tỉnh lỵ Thanh Hóa”. Bác gái của tác giả là bà Đái Thị Ngọc Chất, mẹ của cô Lê Đỗ Thị Ninh. Tiệm gồm sách Pháp, sách quốc ngữ, báo chí, tài liệu mà các gương mặt ham đọc ùn ùn kéo tới. Hình ảnh những ngày Hữu Loan tới tiệm sách còn hằn rõ trong trí của tác giả. “Tôi không nhớ lần đầu tiên anh bước vào nhà là năm nào. Chỉ nhớ hình ảnh đó lắng lại trong trí nhớ: một người thanh niên mặc áo sơ mi đã cũ, nhưng ủi phẳng, tóc chải ngay ngắn, tay cầm chiếc cặp da sờn. Anh nói chuyện với bác gái tôi rất cung kính, nhưng ánh mắt tỉnh và thẳng. Về sau tôi mới biết, chính từ những lần lui tới tiệm sách ấy, bác tôi nhận ra khả năng đặc biệt của anh và mời anh về dạy học cho các con trai trong nhà. Từ đó, anh không còn chỉ là khách mua sách, mà trở thành người ra vào thân thuộc của gia đình Lê Đỗ”. Hai học trò chính của lớp học tại gia này là Lê Đỗ Khôi, người tử trận chỉ vài giờ trước khi Điện Biên Phủ thất thủ, và Lê Đỗ Nguyên, sau này là Trung Tướng Hồng Cư, anh em cột chèo với Võ Nguyên Giáp. Vợ của Lê Đỗ Nguyên là Đặng Thị Hạnh, con gái học giả Đặng Thái Mai.

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ Quốc Quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái




Trung tướng Lê Đỗ Nguyên và Đại tá Lê Đỗ Thái (“Đứa em chưa biết nói”)

Mến tài Hữu Loan, bà…gả con gái cho anh. Khi cưới anh là cán bộ Việt Minh giai đoạn đầu kháng chiến, một cán bộ trí thức. “Trong trí nhớ được truyền lại của người lớn trong nhà, anh sống rất chặt chẽ, rất nề nếp. Bộ kaki của anh lúc nào cũng phẳng. Tối đến, trước khi ngủ, việc đầu tiên không phải là ngả lưng mà là tháo áo quần, vuốt từng nếp, xếp ngay ngắn, gấp phẳng, rồi đặt dưới gối. Như thể cái gối anh gối đầu là đồng thời gối lên danh dự của một người cán bộ – không cho phép mình nhăn nhúm, xộc xệch, dù chỉ trong giấc ngủ. Anh có một cây bút máy Parker màu bạc silver. Nói như thế bây giờ nghe nhẹ tênh, nhưng vào thời đó, Parker là cả một thế giới. Một thứ vừa xa xỉ, vừa biểu tượng, vừa là dấu hiệu của một tầng lớp, tầng lớp trí thức Tây học, biết chữ Pháp, biết làm báo cáo, viết diễn văn, soạn tài liệu. Anh giữ cây bút như báu vật. Người nhà kể, anh luôn cất nó vào một chỗ riêng trong ba lô, không cho ai động vào. Bút không chỉ để viết. Bút là cái chứng từ rằng anh đã từ cậu học trò tự học bên sông Mã, sông Lèn, bước lên thành người có thể đứng giữa Hà Nội mà thi đỗ Tú tài toàn phần như những con nhà gia thế”.

Đám cưới được tổ chức thật giản dị, ít nghi lễ. Cô dâu không may áo cưới. “Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới”. Cô sống một nếp sống khắc khổ, e thẹn, khép kín. Khi có người hỏi đùa sao cô dâu mà không đòi may áo cưới, cô chỉ cười trả lời: “Thời chiến mà, cần chi áo mới”. Chú rể mặc quân phục. “Tôi mặc đồ quân nhân / đôi giầy đinh / bết bùn đất hành quân / Nàng cười xinh xinh / bên anh chồng độc đáo”. Sau vài mâm cơm, ít câu chúc tụng, những cuộc trò chuyện vội vàng, đám cưới kết thúc.

Dưới mắt tác giả Nguyễn Quốc Bảo, Lê Đỗ Thị Ninh là một bóng hình dễ mến. “Chị là chị họ ruột của tôi, gần gũi như anh em ruột, và chị thân thiết với chị tôi - Nguyễn Thị Huệ - hai người bằng tuổi nhau, đi đâu cũng kè kè bên nhau. Tôi còn nhớ rất rõ, trong đám đông trẻ con năm ấy, chị Ninh lúc nào cũng là người e ấp nhất. Chị không ồn ào, không nói nhiều, không liều lĩnh như đám con gái tản cư chạy ngoài bãi cát Sầm Sơn. Chị hiền đến độ chỉ cần một tiếng gọi hơi đột ngột cũng đủ làm chị đỏ mặt; thẹn đến độ chỉ cần có người lớn nhìn chăm quá vài giây là chị nép vào vai chị tôi. Mỗi lần gặp, chị luôn cúi đầu chào rất lễ phép, tiếng nói nhỏ, nhẹ, ngữ điệu như nắng sớm vắt qua bờ giậu. Trong mắt tôi lúc ấy, chị là hình ảnh của một người con gái chưa hề biết yêu, chưa hề bước ra khỏi chiếc vỏ mỏng manh của tuổi dậy thì. Chị giống như một búp sen vừa nở được một cánh mỏng đã bị sương khuya thấm vào, khép lại mãi mãi”.

Cô dâu Lê Đỗ Thị Ninh là con của ông Lê Đỗ Kỳ và bà Đái Thị Ngọc Chất. Bà Ngọc Chất thuộc một gia đình coi trọng chữ nghĩa. Bà là chị cả, nghiêm trang, nề nếp, có cái uy tự phát tiết trong người. Bà là chị ruột của bà Đái thị Kim Chữ, mẹ của tác giả Nguyễn Quốc Bảo, và nhà văn Tchya Đái Đức Tuấn. Cha mẹ của họ là ông Đái Xuân Quảng và bà Đỗ Thị Hiền. Họ Đái gốc Quảng Xương bên Trung Hoa đến An Nam từ thời Cao Biền. Họ Đỗ của bà Đỗ Thị Hiền cùng tộc với thi hào Đỗ Phủ là một cự tộc bên Trung Hoa. Cụ Đỗ Các, cố ngoại của tác giả và cô Lê Đỗ Thị Ninh, làm tới Án Sát tỉnh Thanh Hóa, có 5 vợ. Bà vợ thứ ba là bà Phạm thị Lương sanh ra bà Đỗ Thị Hảo sau này là vợ đầu tiên của học giả Trần Trọng Kim. Chính cụ Đỗ Các đã tài trợ cho con rể Trần Trọng Kim du học bên Pháp.

Lê Đỗ Thị Ninh chết đuối vào năm 1949, thời tản cư. Bữa đó, như mọi ngày, chị ra giặt đồ bên dòng Nông Giang. Bất thần nước đổ xiết. Những người đàn bà đang giặt hoảng hốt ôm đồ chạy lên bờ. Chỉ có một người không chạy kịp. Chị trượt chân, dòng nước dữ kéo chị đi trong chớp mắt. Không ai kịp níu người gặp nạn. Suốt ba ngày đêm, dân làng chèo bè kiếm xác chị. Họ vớt từ khối rác hay bọt bèo nổi lên mong tìm thấy xác chị bám theo. “Tôi cũng là một trong những đứa trẻ ấy - vừa tò mò, vừa sợ hãi, vừa không hiểu vì sao chỉ trong một buổi chiều, một người còn cười nói đã biến mất như vậy. Khi người ta vớt được xác chị, nước đã làm biến đổi nhiều thứ. Tôi chỉ thấy người lớn quây quanh, khăn áo sũng nước, mắt đỏ hoe, còn chị thì nằm im, nhỏ bé, không còn là cô gái mười sáu tuổi e ấp ngày cưới nữa. Thân thể ngâm nước đã phình lên”. Bà mẹ Đái Thị Ngọc Chất ngồi bên xác con không khóc, không kêu, không gào thét được. Bà chỉ ngồi bệt xuống đất, hai bàn tay run run giữ hai đầu gối, mắt mở trừng trừng nhìn vào xác thân con như nhìn một chiếc bóng vừa tách ra khỏi đời mình. Ba đứa con nhỏ của bà: Lê Đỗ Bình, Lê Đỗ Thái, Lê Đỗ Như run rẩy đứng sau lưng bà không hiểu chuyện chi đã xảy ra.

Đám tang vội vã đến nát lòng. Quan tài là vài tấm ván mộc ghép lại, không kèn trống, không cúng kiếng, được mang ra một miếng đất cao vùi vội xuống một khung huyệt nhỏ. Một ụ đất thấp được đắp lên, cắm một nén nhang, không có bia, không có tên, chỉ có bình hương lạnh là chiếc bình hoa ngày cưới.

Khi nghe tin dữ, Hữu Loan đứng bật dậy, mặt tái như chàm rồi ngồi sụp xuống đất như đôi chân không còn sức chống đỡ. Suốt đêm hôm đó ông ngồi dựa gốc cây, không nói một lời, chỉ lặng người nhìn lên trời. Sáng hôm sau ông lặng lẽ trở lại công việc nhưng từ bữa đó tóc mai ông bạc rất nhanh.

Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần

Không còn nhìn thấy người đã khuất, Hữu Loan cũng không bao giờ được nhìn thấy những người thân của vợ kể từ khi ông ra khỏi Đảng vào năm 1950. Ngay Đỗ Lê Thái, “đứa em chưa biết nói”, khi đó là Đại Tá, cũng không bao giờ thăm gặp ông. Không phải vì oán ghét chi mà vì sợ. Chỉ có Hữu Loan không sợ. Sau những năm cải cách ruộng đất, chỉnh huấn, đấu tố và Nhân Văn Giai Phẩm, Hữu Loan bị cô lập. Vậy mà anh lập gia đình lần nữa. Như một chống đối. Không cưới hỏi chi. “Tôi vẫn nhớ rất rõ câu chuyện về chị Nhu - người vợ sau của anh Loan. Một lần ngồi giữa gian nhà lợp ngói cũ ở Nga Sơn, chị kể cho tôi nghe giọng nhỏ, mà như ai rót nước nóng vào tim. Chị bảo, chị là con út trong một gia đình chỉ có vài thửa ruộng con. Vậy mà Cải cách Ruộng đất xếp họ vào hạng tiểu tư sản. Bố mẹ bị đấu tố, bị “thất lộc”, nhà cửa mất sạch, ruộng vườn bị chia, cả gia đình tản mác như tro bay trên đồng mùa đông. Chị trở thành một đứa con gái không nhà không cửa, ban ngày lang thang, ban đêm ngủ nhờ. Cái nghèo đứt ruột thì người ta còn chịu được, nhưng cái nhục bị bêu riếu giữa sân đình thì chị nói, “nó theo riết như mùi khói rơm ám trong áo”. Ấy vậy mà trong những ngày thất thểu ấy, chị vẫn có thói quen lén đến đứng ngoài cửa ngôi trường dựng tạm ở đình làng. Chị đứng nép sau cột đình, chỉ để nghe một người thầy trẻ giảng Kiều cho mấy đứa học trò. Chị bảo, chị không hiểu hết, nhưng mỗi lần nghe đến câu thơ nào anh giảng say mê, chị thấy như đời mình bỗng đỡ tối một chút. Người thầy ấy chính là anh Loan”.



Vợ chồng nhà thơ Hữu Loan.

“Anh Loan” lúc đó thấy chi? “Anh nói với tôi, lần đầu thấy chị đứng sau cột đình, gương mặt ngơ ngác mà ánh mắt đầy sợ hãi, anh tưởng chị là người tò mò qua đường. Nhưng sau nhiều buổi, anh nhận ra sự lặp lại ấy có một nỗi niềm khổ nhục nào đó. Anh tìm hiểu, hỏi chuyện, biết tận cùng hoàn cảnh của chị. Và theo cách rất Hữu Loan - anh không sợ chính quyền, không sợ công an, không sợ “tai tiếng” gì hết - anh đưa chị về nhà nuôi. Rồi hai người thành vợ thành chồng, âm thầm, không hôn lễ, không họ hàng, không ai dám chúc phúc. Nhưng họ sinh được chín người con. Chín đứa trẻ lớn lên giữa nghèo khó, kéo đá, thồ vôi, nhưng lớn lên bằng một thứ mà đảng tịch, chính quyền hay bất kỳ tờ giấy nào không thể cho, sự tử tế của bố, một người đàn ông từng đứng giữa chiến khu, từng từ bỏ mọi thứ để giữ cho mình một chút trong veo còn sót lại”.

Chỉ vì chút “trong veo” mà một nhà thơ của cả một thế hệ, một người thầy được mọi người kính trọng, một trí thức tự học đậu Tú Tài Pháp, đã phải kéo xe chở đá trên con đường gập ghềnh trong làng, lưng cong vì sức nặng khi lên dốc. Vợ anh phải buôn bán lậu ở chợ để kiếm chút cháo nuôi đàn con nhỏ và một ông chồng bị đày đọa vì muốn đứng thẳng lưng. “Anh Loan đưa mắt nhìn ra vườn, đưa mắt nhìn ra cái hiên thấp lợp ngói mốc, hai cột tre chống xiêu vẹo, cái bàn gỗ lổn nhổn nồi niêu chén bát, rổ thau úp ngược, cái sọt nhựa đỏ dựng ở góc, cái bát trắng lẻ loi trên nền xi măng ẩm mốc. Cả cái gian bếp tăm tối ấy, với cửa gỗ hé mở và đống bao tải vứt trong góc, chính là phần đời mà người ta đã bắt nhà thơ sống sau khi đã “đánh” xong anh. Rồi ông bật cười, một tiếng cười nhẹ như tiếng gỗ va nhau: “Tao nói rồi… tụi kia toàn một lũ hèn. Chỉ có vài người chịu đứng thẳng. Mà đứng thẳng thì gãy.” Ông nói, nhẹ như thở: “Đảng, Tố Hữu hay Trường Chinh…cũng không đoạn trường được tao. Tao bị chúng nó đánh đến nát rồi…không còn đánh thêm được nữa; nên tao nhìn mọi chuyện… rất thảnh thơi.”



Tác giả Nguyễn Quốc Bảo và bà Nhu.

Thảnh thơi như những bụi hoa sim tím thẫm. Hoa sim ở đâu mà bài thơ mang tên “Màu Tím Hoa Sim” khiến thứ hoa tầm thường trở thành thứ hoa được người đời nhìn như những bông hoa cao quý của một đời chồng vợ chỉ vẻn vẹn ba ngày. “Hoa sim trong thơ Hữu Loan không mọc ở đâu xa xôi. Nó mọc tím trên những đồi thấp quanh ấp Thị Long - đúng nơi chị Lê Đỗ Thị Ninh mất. Từng bụi sim, từng cành hoa tía đậm, từng cánh hoa rung trong gió đều là nhân chứng câm lặng cho một cái chết thật. Và vì thế, Hữu Loan không chỉ viết thơ; ông viết nỗi đau thật thành ngôn từ, vật hóa bi kịch thành câu chữ, làm bất tử một người con gái mới mười sáu tuổi. Tôi viết những dòng này bằng tư cách một người đã đi qua lịch sử, bị lịch sử xé nát tuổi thơ, và tình cờ trở thành nhân chứng cuối cùng của một câu chuyện mà cả nước thuộc, nhưng ít ai biết gốc gác thật của nó”.

Nhiều người đã đọc bài “Màu Tím Hoa Sim” và hầu như ai cũng đã từng nghe những bài nhạc ăn theo bài thơ. Tôi nhớ những ngày trong các ngõ hẻm Sài Gòn xưa bản nhạc của Dzũng Chinh ra rả suốt ngày, nhà nọ dắt díu qua nhà kia. Chúng ta chỉ biết đây là một chuyện tình bi thảm lấy được nước mắt của mọi người. Biết hơn một chút thì đây không phải một chuyện tình trong tiểu thuyết mà là một bi kịch có thật xảy ra trong đời tác giả Hữu Loan. Nhờ cuốn sách của tác giả Nguyễn Quốc Bảo, một người thân trong gia đình “nàng”, mà chúng ta biết đầy đủ về tấm bi kịch của cô gái 16 tuổi và nhà thơ. Có lẽ bi kịch này đã đẩy tác giả tới việc bỏ Đảng, chấp nhận cuộc sống của người bị bỏ ra bên lề chế độ. Phong ba bão táp đã đổ xuống suốt cuộc đời còn lại của tác giả Hữu Loan, không những tách ông ra khỏi xã hội mà tách ông ra khỏi cả gia đình bên vợ. Chỉ vì họ sống trong nỗi sợ hãi. Chỉ có ông kiên cường sống bất khuất. “Đảng, Tố Hữu hay Trường Chinh…cũng không đoạn trường được tao. Tao bị chúng nó đánh đến nát rồi…không còn đánh thêm được nữa; nên tao nhìn mọi chuyện… rất thảnh thơi.”

Tôi chưa bao giờ thấy một đóa sim nhưng vẫn mường tượng đó như một vết bầm đọng máu tím tái. Những vết bầm trên người nhà thơ bất khuất Hữu Loan!

12/2025



Bia mộ nhà thơ Hữu Loan.



Nhà thơ Hữu Loan


Nguyễn Quốc Bảo



Xin mời thưởng thức Tình Khúc Tím Một Chiều Quê
Giai điệu Ballad Rumba - Thơ Tế Luân - Hòa âm Suno Ai








 


Tháng Sáu Chim bay - Thấy Em - Thơ Tháng Sáu 2026



Chúng ta đã bước vào Tháng Sáu (2026). Tôi có một chút thơ thẩn thẫn thờ, để cho thêm tình tự lãng mạn, góp vui cho đời thêm thi vị.
Xin mời đọc thơ cho vui.
Lê Tuấn





THẤY EM

Anh thấy ấm một góc
Thì ra em ngồi đây
Ôm tình trong nắng sớm
Anh nhìn theo áng mây.

Anh chen vào hướng gió
Hứng chút hương ngọt ngào
Thương em tình lận đận
Dệt mãi giấc chiêm bao.

Như ngày xanh tuổi ngọc
Những hạt nắng trong mơ
Con ong vàng tìm mật
Góp đầy niềm đợi chờ.

Gió chiều vương sợi tóc
Nắng nghiêng dài vuốt ve
Anh cúi tìm chiếc lá
Báo mùa thu trở về.

Nghe tiếng nhạc chan hòa
Bài tình ca thương nhớ
Mái tóc mềm hương nắng
Thoảng nhẹ mùi hương xưa.

Anh nhìn theo cọng cỏ
Lay nghiêng bóng chiều tà
Bỗng nhiên em quay lại
Môi tình nồng nở hoa.

Tế Luân
06-10-26

Đây là một bài thơ ngũ ngôn rất đẹp, có ưu điểm là ngôn ngữ giản dị, hình ảnh trong sáng và mạch cảm xúc liền lạc.
Nhờ AI dịch

SEEING YOU

I felt a corner warm,
And there you were,
Holding love in morning sunlight,
While I watched the drifting clouds.

I stepped into the breeze,
Catching a trace of sweetness.
Thinking of your troubled love,
Still weaving endless dreams.

Like the emerald days of youth,
Like sunbeams born in dreams,
A golden bee seeks honey,
Gathering hope and waiting.

The evening wind touched your hair,
Slanting sunlight lingered long.
I bent to find a fallen leaf,
A sign that autumn nears.

Music flowed around us,
A love song filled with longing.
Your fragrant, sunlit hair
Carried scents from days gone by.

I watched a blade of grass
Sway beneath the fading light.
Then suddenly you turned,
And love bloomed upon your smile.

— Tế Luân
June 10, 2026




Tháng Sáu Chim Bay

Không gian tháng sáu chim bay mỏi cánh
Ngày còn dài chen lấn cả bóng đêm
Bữa tiệc sân vườn đèn treo lấp lánh
Tiếng nhạc gợi tình đón bước chân em.

Ly rượu còn đầy môi em chợt nóng
Áo mỏng gió đùa dịu mát da thơm
Ai hát mà nghe lòng như gợi sóng
Khúc tình buồn mang chút dỗi hờn

Buổi chiều thứ bảy sáng mai chủ nhật
Tháng sáu ngày dài, váy ngắn gợi tình
Một chút buông thả cho đời hưng phấn
Thơm nụ xuân hồng tạo dáng xinh xinh.

Điệu tango xoay vòng như năm tháng,
Kéo tuổi xuân về thấp thoáng đâu đây.
Một đêm tháng sáu tưởng dài vô tận,
Mà thời gian thấp thoáng cánh chim bay.

Rồi mai lá úa nhuộm vàng ký ức,
Mùa thu nào cũng trở lại sau lưng.
Ta nâng chén đời giữa đêm còn trẻ,
Nghe tháng sáu cười trong phút vui mừng.


Tế Luân





Nhờ AI dịch

June Birds

June stretches across the sky—
birds weary from their endless flight.
The day lingers, refusing night,
while garden lanterns glow with light.

Music drifts among the trees,
welcoming your gentle tread.
Wine blushes warm upon your lips,
summer breezes brush your skin instead.

A lonely love song fills the air,
half sorrow, half a sweet complaint.
The tango turns, the years turn too,
and vanished youth appears, then fades.

Saturday slips toward Sunday dawn.
The long June day still breathes its fire.
For one brief night we let go of care,
surrendering to joy and desire.

Yet time is swift as migrant wings.
Tomorrow's leaves will turn to gold.
Autumn will walk behind us still,
as it has done in days of old.

So raise a cup to life tonight,
while youth remains within the heart.
And hear June laughing in the dark,
before its fleeting season departs.

— Tế Luân







  Hoài Niệm Ngày Quân Lực 19 Tháng 6, 2026 Hoài niệm ngày Quân Lực VNCH 19 Tháng 6. Cộng đồng người Việt Tự Do Bắc cali tổ chức buổi lễ tưởn...