Thi Sĩ Là Chứng Nhân
Của Lịch Sử
Thi sĩ chính là nhân chứng của lịch sử, qua tâm hồn nhạy cảm, tiếng lòng
chân thật và góc nhìn sâu sắc trước thời đại.
Thi sĩ viết một bài thơ là ghi lại sự thật, lưu giữ nỗi đau và phản ánh
khát vọng của con người trong từng biến cố.
Biểu hiện của thi sĩ làm nhân chứng
- Lưu giữ sự
thật: Ghi lại chân thực bộ mặt của xã hội, chiến tranh, đói nghèo hoặc
niềm vui qua từng câu thơ.
- Lên tiếng vì
con người: Đứng về phía người dân, bày tỏ thái độ trước công lý, chống lại
cái ác.
- Nuôi dưỡng hy
vọng: Truyền ngọn lửa niềm tin và tình yêu cuộc sống cho thế hệ mai sau.
Nhà thơ hay Thi nhân (Chữ hán: 詩人) là người sáng tác thơ, những nhà thơ nổi
tiếng thường được gọi là thi sĩ hoặc thi hào đối với những người kiệt xuất như
Nguyễn Du, Lý Bạch
Thi sĩ đích thực không chỉ là người
làm thơ mà là những người thực sự biết cách khai thác cảm xúc, biến nỗi niềm cá
nhân thành tác phẩm thơ mang giá trị thẩm mỹ, chứ không phải ai cũng có thể gọi
là thi sĩ chỉ vì viết vài bài thơ đơn giản.
Mọi người đều có thể học cách làm thơ, nhưng chỉ có những người
thực sự khai thác được cảm xúc, biến nỗi niềm cá nhân thành tác phẩm bài
thơ có hồn, có ý nghĩa mới được gọi là thi sĩ.
Con người chỉ hiện hữu trong ngôn ngữ, và
ngôn ngữ bao giờ cũng hiện hữu trong đối thoại, trong Văn Thơ.
Đó là nét đặc trưng của con người, bởi chỉ
con người mới mang thời tính, tức tìm thấy chính mình ngay trong lòng sự thật, khi
chúng được từng bước khai mở bằng một cách nào đó.
Ngôn ngữ là nơi ta thể nghiệm: hoặc có thể
đi sâu vào được vùng ẩn nấp sâu kín của tâm hồn, hay chỉ phải dừng lại ở bề mặt
của sự hiện diện thô sơ trên mặt chữ.
Có một bài thơ như thế, khi chúng ta lục tìm
trong sách vở chúng ta bắt gặp Thanh Tâm Tuyền, thi sĩ đã mở rộng tình yêu tự
do qua bài thơ viết về cuộc chiến tranh tại Hungary.
Sáng
tác vào tháng 12 năm 1956, vài tuần sau khi cuộc cách mạng dân chủ của người dân
Hungary bị đè bẹp bởi hồng quân Liên Xô và xích sắt chiến xa Nga dày xéo
Budapest.
Thi
phẩm này được đăng trên “Sáng tạo” số tháng 1 năm 1957, với tựa đề có lẽ không
thể dài hơn:
“Hãy
cho anh khóc bằng mắt em –
Những cuộc tình duyên Budapest”.
Ngày trước khi định cư tại Hoa Kỳ, từ tháng 4 năm 1990 theo diện HO, sống ở tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ. Thanh Tâm Tuyền chưa bao giờ ra khỏi Việt Nam, nhưng thơ ông đầy những thành phố ngoại quốc, từ Warszawa, Berlin, Bình Nhưỡng, Bắc Kinh, Moscow, Praha, Paris, Madrid, Brussel, Geneva đến Budapest.
Hồn
thơ của ông là hồn thơ đô thị và mang tính thế giới. Thanh Tâm Tuyền đã có sự đồng
cảm với dân tộc Hungary xa xôi qua những vần thơ rất đẹp, nhưng cũng rất lạ và đặc
biệt, giận dữ và đau lòng, phẫn nộ nhưng yêu thương:
Anh một trái tim em một trái tim
Chúng kéo đầy đường chiến xa đại bác
Hãy
cho anh giận bằng ngực em
Như chúng bắn lửa thép vào
Môi son họng súng
Mỗi ngã tư mặt anh là hàng rào
Hãy
cho anh la bằng cổ em
Trời mai bay rực rỡ
Chúng nó say giết người như gạch ngói
Như lòng chúng ta thèm khát tương lai
Hãy
cho anh run bằng má em
Khi chúng đóng mọi đường biên giới
Lùa những ngón tay vào nhau
Thân thể anh chờ đợi
Hãy
cho anh ngủ bằng trán em
Đau dấu đạn
Đêm không bao giờ không bao giờ đêm
Chúng tấn công hoài những buổi sáng
Hãy
cho anh chết bằng da em
Trong giây xích chiến xa tội nghiệp
Anh sẽ sống bằng hơi thở em
Hỡi những người kế tiếp
Hãy
cho anh khóc bằng mắt em
Những cuộc tình duyên Budapest.
Nhận
xét một chút về ý tưởng của bài thơ. Thông thường, người ta đối lập tình
yêu với chiến tranh. Nhưng Thanh Tâm Tuyền không làm như vậy.
Hai trái tim vừa xuất hiện thì ngay lập tức chiến xa và đại bác tràn vào.
Bởi vì Chiến tranh không còn ở ngoài phố, mà đi vào trái tim con người.
Đọc qua bài thơ này
của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền, tôi lại chợt nhớ đến Việt Nam trong giai đoạn cộng
sản xâm chiếm miền nam từ những thập niên 1975 đến 1995. Đây là giai đoạn đen tối
nhất mà những con người cộng sản Việt Nam đã cai trị đất nước.
Cá nhân tôi bị tù đày
8 năm trong các trại tập trung của cộng sản, tôi đã chứng kiến biết bao những
oan khiên mà người dân đã phải chịu đựng, thậm chí ngay cả những cán binh hay
những người công an của đảng cũng phải nghe theo.
Một ví dụ nhỏ. Có
một công an coi tù, anh này là một thanh niên mới trưởng thành, anh đã thầm yêu
một thiếu nữ tại địa phương, người thiếu nữ này rất xinh đẹp nết na và rất hiền,
nhưng anh không dám lấy làm vợ.
-
Tôi hỏi anh tại sao? Anh công an này trả lời:
-
Vì cô ấy thuộc thành
phần không tiến bộ, gia đình cô ấy có nguồn gốc
địa chủ. Theo chỉ thị của đảng,
người công an muốn lập gia đình phải xem xét thành phần, gia đình hai bên phải
là đảng viên.
Tình yêu này không theo trái tim con người quyết định, mà nó là một loại bị
áp đặt theo chỉ thị của đảng. Thật đáng buồn cho dân tộc Việt Nam trong thời đại
cộng sản vô thần.
Qua câu chuyện này tôi có viết một bài thơ tự do:
Tình Yêu Thời Cộng Sản
Đồn công an đặt
giữa trái tim em
Dây kẽm gai rào
kín trái tim anh
Hãy cho anh vuốt
nhẹ ngực em
Như chúng bắt
em ký vào bản án.
Môi son em là
màu của máu
Mỗi góc phố là
một trại giam
Hãy trao cho anh ánh mắt hận thù
Trời ngày mai sẽ đỏ tươi màu máu.
Chúng sẽ giết người ngay trong tư tưởng
Nhưng chúng ta còn hẹn ước tương lai
Hãy cho anh sự sợ hãi như em
Khi chúng vây hãm mọi con đường giao tiếp.
Chúng lùa em và anh vào trại giam
Thân thể chúng ta va chạm và chờ đợi
Hãy cho anh ngủ trên trái tim em
Viên đạn hận thù xuyên thấu thịt da.
Đêm không bao giờ bình yên được nữa.
Chúng tấn công vào tận những giấc mơ
Hãy cho anh gục chết dưới chân em
Tiếng xích sắt luồn qua ổ khóa
Mất tự do
Anh sống bằng hơi thở của em
Hỡi những tâm hồn tội nghiệp
Hãy cho anh rơi lệ trên tay em
Để em vuốt mắt cuộc tình thời cộng sản.
Lê Tuấn
Bài thơ viết trong tù 1979
Thanh Tâm Tuyền viết
về Budapest năm 1956 bằng trái tim của một người chưa từng đặt chân đến
Hungary.
Tôi viết về Việt
Nam sau năm 1975 bằng ký ức của một người đã sống qua những năm tháng ấy.
Hai bài thơ ra đời
trong hai hoàn cảnh khác nhau, nhưng đều gặp nhau ở một điểm: chiến tranh có thể
kết thúc trên chiến trường, nhưng những vết thương mà nó để lại trong tâm hồn
con người còn kéo dài rất lâu sau tiếng súng cuối cùng.
Khi tình yêu phải
sống dưới bóng tối của bạo lực và sợ hãi, thi ca không còn chỉ là tiếng nói của
cảm xúc; thi ca trở thành chứng từ của lịch sử và là ký ức của một thế hệ và
thi ca chính là bản án của chế độ.
Thi ca là chứng nhân của một thời đại
Không phải mọi bài thơ đều kể một câu chuyện. Có những bài thơ chỉ giữ lại
một cảm giác. Có những bài thơ chỉ lưu giữ một khoảnh khắc của tâm hồn. Nhưng
cũng có những bài thơ trở thành chứng tích của cả một thế hệ.
Tình yêu thời cộng sản, là một bài thơ như thế.
Thành phố Milpitas
Viết Xong 7-29-26
Louis Tuấn Lê

