Nơi lưu giữ những rung động, dấu ấn của đời người. Nơi chia sẻ cuộc sống và văn Học Nghệ Thuật, của những tâm hồn thi nhân lãng mạn. Nếu không có thi nhân, không có tâm hồn nghệ sĩ, con người sẽ nhàm chán vì sự đơn điệu của cuộc sống. Bởi vì đời sống chỉ là cõi tạm một ngày nào đó hình bóng của ta sẽ tan biến.
Chân dung ta bóng hư vô
Dòng sông tình tự nhấp nhô bóng mình.
Nghệ thuật nude trong hội họa thế kỷ 19 – Tôn vinh vẻ đẹp con người, không phải sự khiêu gợi.
Thế kỷ 19 là giai đoạn rực rỡ của hội họa châu Âu, nơi nhiều danh họa như Édouard Manet, Jean-Auguste-Dominique Ingres, William-Adolphe Bouguereau hay Pierre-Auguste Renoir đã để lại những tác phẩm vẽ nude bất hủ. Hình ảnh những thiếu nữ khoả thân trong tranh của họ không mang tính dung tục, mà là biểu tượng của vẻ đẹp thuần khiết, tự nhiên và sự tôn vinh hình thể con người – một trong những chủ đề cao quý nhất của nghệ thuật.
Tranh nude, trong ngôn ngữ hội họa, là sự diễn đạt cái đẹp của hình thể, ánh sáng và cảm xúc. Dưới ngòi bút của các danh họa, thân thể người phụ nữ trở thành nguồn cảm hứng cho cái đẹp lý tưởng, như thần Vệ Nữ trong văn hóa Hy Lạp – La Mã, biểu trưng cho tình yêu, sự sinh sôi và cái đẹp vĩnh hằng.
Cần xoá bỏ những định kiến đạo đức giả cho rằng tranh nude là khiêu dâm hay đồi bại. Nghệ thuật đích thực luôn hướng tới cái đẹp và chân lý, chứ không nhằm kích thích dục vọng. Khi chiêm ngưỡng những bức tranh ấy, ta thấy được tâm hồn người họa sĩ, niềm tôn kính với thiên nhiên và với chính vẻ đẹp của con người.
Nghệ thuật nude – Tôn vinh vẻ đẹp con người, vượt lên mọi định kiến.
(Bức La Maja Desnuda của Goya là một trong những tác phẩm tiên phong
mở đường cho nghệ thuật nude hiện đại)
Cá nhân tôi Lê Tuấn.
Là một họa sĩ nghiệp dư, tôi luôn bị cuốn hút bởi vẻ đẹp của hình thể con người — đặc biệt là những bức tranh nude trong hội họa thế kỷ 19. Có lẽ vì ở đó, tôi nhìn thấy không chỉ da thịt, mà là ánh sáng của sự sống, vẻ đẹp của tự nhiên và sự tự do tinh thần của nghệ sĩ.
Thế kỷ 19 là thời kỳ đỉnh cao của nghệ thuật châu Âu, nơi các danh họa như Francisco Goya, Édouard Manet, William-Adolphe Bouguereau, Jean-Auguste-Dominique Ingres hay Pierre-Auguste Renoir đã để lại những tác phẩm nude bất hủ. Mỗi bức tranh là một cách nhìn khác nhau về vẻ đẹp của người phụ nữ, vừa gần gũi, vừa vượt thoát khỏi mọi ràng buộc của hiện thực.
Bức La Maja Desnuda của Goya là một trong những tác phẩm tiên phong mở đường cho nghệ thuật nude hiện đại. Nhân vật khỏa thân trong tranh không còn là vị thần trong thần thoại, mà là một người phụ nữ thực sự bằng xương bằng thịt, nhìn thẳng vào người xem với ánh mắt tự tin, thách thức. Goya đã khẳng định: người phụ nữ trần thế cũng xứng đáng được ngợi ca như một biểu tượng của cái đẹp.
Tiếp đến, Olympia của Édouard Manet (1863) từng gây chấn động khi ra mắt tại Paris. Hình ảnh người mẫu nằm khỏa thân trên giường, nhìn thẳng vào khán giả với vẻ điềm nhiên, khiến công chúng thời bấy giờ choáng váng. Nhưng chính sự “phá cách” đó đã khai sinh cho nghệ thuật hiện đại – nơi con người dám đối diện với sự thật, với thân thể và khát vọng của chính mình.
Olympia của Édouard Manet (1863)
Ở một thái cực khác, The Birth of Venus của Bouguereau (1879) lại đưa người xem vào thế giới thần thoại và lý tưởng hóa cái đẹp. Cơ thể Venus được vẽ bằng những nét mềm mại, tinh tế đến hoàn hảo, như một bản ca ngợi vẻ đẹp thuần khiết, trong sáng và thần thánh của người phụ nữ. Cùng thời đó, những bức tranh của Ingres hay Renoir cũng tiếp tục khẳng định vẻ đẹp nữ giới là nguồn cảm hứng vĩnh cửu của nghệ thuật.
Tôi cho rằng, tranh nude không hề mang tính khiêu dâm như nhiều người từng hiểu lầm. Khiêu dâm hướng tới dục vọng, còn nghệ thuật hướng tới cái đẹp và chân lý. Trong bàn tay người họa sĩ, thân thể người phụ nữ trở thành một ngôn ngữ thẩm mỹ, nơi ánh sáng, hình khối và cảm xúc hòa làm một.
Chúng ta cần xóa bỏ tư tưởng đạo đức giả vẫn còn tồn tại trong xã hội, cho rằng vẽ tranh nude là đồi bại. Thực ra, đó là cách con người đối thoại với chính sự sống, với cái đẹp tự nhiên mà tạo hóa đã ban tặng. Vẽ hay chiêm ngưỡng tranh nude, với tôi, là một trải nghiệm tâm linh: nhìn thấy trong hình thể trần trụi kia một vẻ đẹp nhân bản, sâu sắc và đầy xúc cảm. Và có lẽ, đó mới chính là điều mà nghệ thuật hướng tới — sự tôn vinh cái đẹp, chứ không phải sự kích thích giác quan.
xin mời xem một số tranh Nude thế kỷ thứ 19
Các danh họa ít khi vẽ tranh khỏa thân cho phái Nam
Vạn Dặm Vô Thường là một khúc ca trữ tình, triết lý, viết lên từ tâm thức của người lữ khách, sau vạn dặm phong sương và những cuộc bể dâu nhân thế.
Từ bài thơ cùng tên của Tế Luân, ca khúc vang lên như tiếng vọng từ cõi xa xăm, nơi con người soi lại chính mình giữa vô thường, giữa những mất còn của tình, của đời. Giai điệu mang âm hưởng ballad lãng đãng và sâu thẳm, đôi lúc pha chút folk cổ điển, như tiếng đàn buồn giữa đêm sương gió. Trong từng lời ca, là khát vọng tìm tri âm, là nỗi cô đơn của kẻ phiêu du trên đường đời, và cũng là lời chiêm nghiệm nhẹ nhàng về cõi vô thường, nơi mọi thương đau rồi cũng hóa thành mây khói. Vạn Dặm Vô Thường không chỉ là một bản nhạc, mà là hành trình nội tâm, nơi người nghe thấy chính mình trong mỗi nốt buồn của kiếp nhân sinh. Tình Khúc Tế Luân, là ca khúc phổ nhạc từ bài thơ của thi sĩ Tế Luân. Bài thơ nói lên tâm trang của một lãng tử.
Video Editor Louis Tuấn Lê. Với hình ảnh 4K đẹp nhất, âm thanh tuyệt vời, qua hai giọng ca Nam + Nữ hát bè. Xin mời thưởng thức. Lê Tuấn
Vạn Dặm Vô Thường.
Vạn dặm phong trần, vạn dặm đau Tri âm tìm mãi giữa bể dâu. Người xưa thoáng bóng, trôi nhân thế, Chỉ bóng ta thôi, gối lệ sầu.
Qua hết đường đời, bước đoạn trường, Gió cuồng, bụi đỏ, trận sa trường. Sau lưng bỏ lại ngàn chinh chiến, Trước mặt vô thường, kiếp tha hương.
Chén rượu cay nồng, say chẳng tỉnh, Bạn xưa đâu nữa, rượu không cùng. Câu thơ rớt giữa miền quên lãng, Chỉ thấy trong tim, mộng bão bùng.
Vạn lý phong sương, tiếng vọng sầu, Hồn người lãng tử biết đi đâu? Tình tan theo gió ngoài muôn dặm, Chỉ thấy trong ta nỗi thẳm sâu.
Năm tháng cuộn về như khúc hát, Ký ức rưng rưng giữa cõi thiền. Có ai đợi phía trời xa lắm, Hay chỉ mình ta đợi hữu duyên?
Chiếc áo phong sương còn bụi bám, Rũ sạch nhân gian khói mịt mù. Người xưa nằm dưới hồn sương khói, Ta chạm thương đau, mộng kiếp tu.
Vạn dặm phong sương, vạn dặm buồn, Tìm đâu tri kỷ giữa vô thường. Tìm đâu? chỉ thấy ta già quá, Chỉ thấy mình ta giữa đoạn trường.
Ơi hỡi! người đi, em ở đâu? Sao để ta đây giữa vạn sầu. Trời đất bao la, hồn ly khách, Lưu lại trong ta, tình ở đâu?
Tế Luân
Xin mời thưởng thức ca khúc Vạn Dặm Vô Thường
Tình Khúc Vạn Dặm Vô Thường qua hai giọng Nam + Nữ hát bè, nghe rất hay, nhưng vẫn chưa thấm sấu vào lòng người.
Tôi đã thực hiện (Version 2) cho tình khúc này qua phong cách trình bày của Nam ca sĩ. Nghe rất hay, dường như thấm sấu vào lòng người. Xin mời thưởng thức.
Trang sách cũ, hương xưa còn vọng lại, “Gìn vàng giữ ngọc”, là bậc văn nhân Cả một đời, thanh sạch giữa phong trần, Giữ ngọn lửa, sáng đêm dài nhân thế.
Tâm rực sáng, sao trời không che khuất Tác phẩm để đời, thắp sáng hư vô Hồn văn nhân, ông gìn giữ cơ đồ Thành di sản, muôn đời sau còn đó.
“Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp” Câu nói xưa, ngọc sáng giữa hồn dân “Doãn Quốc Sỹ”, còn nhắc đến tên ông Như nhắc đến trăng soi thời tăm tối.
Người ra đi, hương linh còn đọng lại, Tác phẩm cũ, trang thơ, vào tâm giới. Một kẻ sĩ, không khuất phục quyền uy, Một trái tim, chỉ biết yêu chân lý.
Xin cúi mình, trước nến tàn hoa rũ, Trước tấm gương soi giữa cõi nhân gian. “Doãn Quốc Sỹ”, ngọn đuốc sáng soi đường Chân thiện mỹ, ở cùng ông bất diệt.
Tế Luân Thành Kính Phân Ưu
PHÂN ƯU & TIN BUỒN VĂN HỌC
Văn Thơ Lạc Việt. THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM:
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923–2025) Biểu tượng của Văn Học Miền Nam Việt Nam Đã thanh thản từ trần lúc 10:05 sáng ngày 14 tháng 10 năm 2025
Tại West Anaheim Medical Center, Quận Cam, California. Hưởng đại thọ 103 tuổi
Một cây đại thụ của nền Văn Học Miền Nam Tự Do đã ngã xuống. Tin nhà văn Doãn Quốc Sỹ – thầy giáo, người viết, người kẻ sĩ kiên trung – vĩnh viễn ra đi đã khiến cả giới văn học hải ngoại và trong nước bàng hoàng xúc động. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu nhất của văn đàn Việt Nam hiện đại, với cuộc đời hiến trọn cho chân – thiện – mỹ, cho tự do tư tưởng và phẩm giá con người.
Câu nói của ông:
“Nhà giáo là nghề, nhà văn là nghiệp” đã trở thành phương châm sống, biểu trưng cho nhân cách và tấm lòng son sắt của một người trí thức Việt Nam.
Tiểu sử tóm lược •Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 (mùng 2 Tết Quý Hợi), tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông, Hà Nội. •Tham gia kháng chiến chống Pháp, rồi rời bỏ Việt Minh khi nhận ra bản chất cộng sản. •Cùng thế hệ với các văn nhân lớn Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp… sáng lập Tạp chí & Nhà Xuất bản Sáng Tạo (1956) — biểu tượng của phong trào văn học hiện sinh, khai phóng và nhân bản tại miền Nam. •Là nhà giáo ưu tú, từng giảng dạy tại các trường trung học và đại học danh tiếng: Nguyễn Khuyến, Chu Văn An, Quốc Gia Sư Phạm, Văn Khoa, Vạn Hạnh, và là Hiệu trưởng Trường Trung học Hà Tiên. •Tác phẩm tiêu biểu: Dòng Sông Định Mệnh, Khu Rừng Lau, Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Đi (bút hiệu Hồ Khanh)… •Sau năm 1975, ông bị cầm tù hai lần, tổng cộng hơn 13 năm, vì không khuất phục trước cường quyền. •Năm 1995, định cư tại Hoa Kỳ, vẫn tiếp tục viết và giảng dạy, sống an nhiên, thanh thản giữa cộng đồng người Việt tị nạn.
Một đời khí tiết – Một tấm lòng nhân hậu Dù trải qua lao tù, thăng trầm, ông vẫn giữ tâm hồn thanh tịnh, sống với tinh thần thiền định và yêu thương.
Nhà bình luận Ngô Nhân Dụng từng viết:
“Mỗi giờ phút trong đời sống của ông thể hiện một quá trình thiền tập.
Đối cảnh biến đổi cách nào, ông cũng có thể mỉm cười nói: ‘Thế đấy!’”
Ông ra đi, để lại cho hậu thế một gia sản tinh thần đồ sộ, một di sản văn hóa rực sáng, và một tấm gương nhân cách bất hoại.
Văn Thơ Lạc Việt. Thành kính phân ưu cùng tang quyến và nghiêng mình tiễn biệt bậc đại kẻ sĩ Doãn Quốc Sỹ, người đã sống trọn vẹn với chữ Tâm, và ra đi trong ánh sáng của chữ Đạo.
Những Bài Thơ - Chân Dung Người Nghệ Sĩ Không bao Giờ Ngừng Sáng Tạo - Tế Luân.
Tuyển Tập (Viết Trên Quê Người - Chân Dung Văn Thi Sĩ Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại – Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ) Thi Sĩ
Tế Luân
Lê Tuấn Đại Đội Trưởng Dịa Phương Quân (Tỉnh Hậu Nghĩa) 1973
Điểm Trên Da Thịt Vô Thường Tàn Phai
Đường đời vạn nẻo nhấp nhô Dặm trường gió bụi biển xô sóng gào Thôi thì cũng mặc ra sao Trôi theo thân phận, vận vào nghiệp mang.
Bàn cờ chưa đánh đã tan Đời trai chinh chiến dọc ngang đất trời Đạn bom khói lửa tơi bời Cuồng điên nấc nghẹn, đất trời tang thương.
Đạn thù hằn dấu vết thương Điểm trên da thịt vô thường tàn phai Còn nghe như tiếng thở dài Cơn đau thân phận, hình hài hư hao.
Trôi theo vận nước lao đao Mai kia dẫu có ra sao kiếp người Vẫn còn ngạo nghễ tiếng cười Ưỡn cao bờ ngực nhìn đời hiên ngang.
Tế Luân
Em Cúi Xuống
Em cúi xuống để rơi ngàn giọt lệ Khóc cho đất, cho mộ đá không tên Cho đêm về lung linh ngọn nến trắng Tấm thẻ bài chợt lóe sáng trong đêm.